Điều 7. Trách nhiệm của doanh nghiệp và doanh nhân, thủ trưởng cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức
1. Khi có yêu cầu của Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an hoặc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định pháp luật, Sở Ngoại vụ đề nghị các cơ quan, doanh nghiệp thông tin về tình hình quản lý, sử dụng thẻ ABTC của doanh nhân, cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý để tổng hợp, báo cáo theo yêu cầu của các cơ quan này.
2. Chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin kê khai trong báo cáo và chấp hành đúng pháp luật Nhà nước Việt Nam, cũng như các quy định của các nước và vùng lãnh thổ thành viên APEC áp dụng đối với người mang thẻ ABTC.
3. Chấp hành tốt pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, thương mại, thuế, hải quan, lao động và bảo hiểm xã hội cũng như quy định về sử dụng thẻ ABTC.
4. Trường hợp người được cấp thẻ đã chuyển công tác, thôi giữ chức vụ (không còn là đối tượng được sử dụng thẻ ABTC) hoặc nghỉ việc, cơ quan, doanh nghiệp phải có trách nhiệm thu hồi thẻ nộp về Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an; đồng thời thông báo cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh biết (qua Sở Ngoại vụ).
5. Trường hợp doanh nhân làm mất thẻ ABTC, trong thời hạn 48 giờ kể từ khi phát hiện mất, doanh nhân phải trình báo với Cục Quản lý Xuất nhập cảnh, Bộ Công an theo mẫu X09 ban hành kèm theo Thông tư 28/2016/TT-BCA ngày 05 tháng 7 năm 2016 của Bộ Công an về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế về việc cấp và quản lý thẻ đi lại của doanh nhân APEC, đồng thời thông báo cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh biết (qua Sở Ngoại vụ ).
6. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày cán bộ, công chức, viên chức, doanh nhân được cấp thẻ ABTC, doanh nghiệp, cơ quan nơi cán bộ, công chức, viên chức, doanh nhân đang công tác, làm việc có trách nhiệm thông báo danh sách những người được cấp thẻ cho Sở Ngoại vụ theo dõi, quản lý (kèm theo bản phô tô thẻ ABTC đã cấp).