vanban.org

Điều 36. Trách nhiệm của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh — Quyết định 60/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 29/07/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 29/07/2011 Thay thế: 18/2011/QĐ-UBND · 19/07/2011
Lai Châu Ban hành 18/09/2006 Hiệu lực 20/09/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 6 đời quyết định · 11 phiên bản · 22 năm
Quyết định số 35/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2021-2026 · 35/2023/QĐ-UBND
Quyết định số 28/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2021-2026 · 218/2021/QĐ-UBND
Quyết định số 26/2016/QĐ-UBND Ban hành Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2016 - 2021 · 26/2016/QĐ-UBND
Quyết định số 18/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2011-2016 · 18/2011/QĐ-UBND
Quyết định số 60/2006/QĐ-UBND Ban hành Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu nhiệm kỳ 2004 - 2009 · 60/2006/QĐ-UBND
29/07/201118/2011/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 20/09/2006Bản gốcThay thế
Quyết định số 69/2004/QĐ-UB Ban hành Quy chế làm việc của UBND Tỉnh · 69/2004/QĐ-UB
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 60/2006/QĐ-UBND › Chương IX › Điều 36
Đọc toàn văn

Điều 36. Trách nhiệm của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh

1. Chỉ đạo Thanh tra tỉnh, Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân tỉnh và Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện phối hợp thực hiện nghiêm túc công tác thanh tra, tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân; định kỳ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh họp với các Phó Chủ tịch và Thủ trưởng các cơ quan liên quan để giải quyết các đơn thư khiếu nại tố cáo còn tồn đọng.

2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ khi để xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí, gây thiệt hại lớn, những vụ việc khiếu kiện tồn đọng kéo dài, gay gắt, đông người, vượt cấp thuộc phạm vi quản lý của địa phương mình.

3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phải có lịch tiếp công dân, phối hợp chặt chẽ với Thường trực Tỉnh uỷ, Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức tiếp công dân. Tuỳ theo yêu cầu của công việc Chủ tịch Uỷ ban nhân bố trí số lần tiếp công dân trong tháng. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có thể uỷ nhiệm cho Phó Chủ tịch tiếp công dân nhưng ít nhất mỗi quý Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải bố trí thời gian để trực tiếp tiếp công dân 01 buổi.