vanban.org

Điều 11. Đánh giá cuối kỳ, đánh giá hiệu quả đầu ra của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo — Quyết định 59/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 10/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Vĩnh Long Ban hành 30/06/2026 Hiệu lực 10/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 59/2026/QĐ-UBND › Chương III › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Đánh giá cuối kỳ, đánh giá hiệu quả đầu ra của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

1. Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện thủ tục đánh giá cuối kỳ, đánh giá hiệu quả đầu ra của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

a) Sở Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ đánh giá trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ; xác nhận tình trạng hồ sơ và thông báo cho tổ chức chủ trì đối với trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định 267/2025/NĐ-CP. Tổ chức chủ trì phải bổ sung hồ sơ trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo.

b) Trong thời hạn 15 ngày kể từ thời điểm nhận được hồ sơ đề nghị đánh giá cuối kỳ hoặc hết thời gian bổ sung hồ sơ (nếu có), Sở Khoa học và Công nghệ tiến hành thực hiện thủ tục đánh giá cuối kỳ.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập đoàn đánh giá cuối kỳ, đánh giá hiệu quả đầu ra của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (Đoàn đánh giá cuối kỳ).

a) Việc đánh giá cuối kỳ nhiệm vụ và đánh giá hiệu quả đầu ra của nhiệm vụ khoa học và công nghệ được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư số 36/2025/TT-BKHCN.

b) Thành phần Đoàn đánh giá cuối kỳ, phương thức làm việc của Đoàn đánh giá cuối kỳ thực hiện dựa trên quy định tại khoản 3, điểm a, điểm b khoản 4 Điều 7 Quy định này.

3. Trong trường hợp nhiệm vụ có sản phẩm đo kiểm được, hoặc trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Tổ chuyên gia hoặc thuê chuyên gia tư vấn độc lập, tổ chức tư vấn để thẩm định, đánh giá các sản phẩm này, xử lý các vấn đề kỹ thuật hỗ trợ cho hoạt động của Đoàn đánh giá cuối kỳ.

4. Ngoài nội dung đánh giá theo quy định tại khoản 1 Điều này, nội dung đánh giá cuối kỳ còn bao gồm nội dung đánh giá rủi ro theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Quy định này.

5. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đánh giá cuối kỳ ở mức “Đạt yêu cầu” khi trên 2/3 số thành viên Đoàn đánh giá thống nhất.

6. Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đánh giá cuối kỳ ở mức “Không đạt yêu cầu”, Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện tiếp các nội dung sau đây:

a) Yêu cầu tổ chức chủ trì bổ sung, giải trình hoặc cung cấp tài liệu liên quan đến việc quản trị rủi ro trong quá trình thực hiện nhiệm vụ (nếu cần thiết);

b) Xác định mức kinh phí phải hoàn trả ngân sách nhà nước (nếu có) trên cơ sở kết quả đánh giá cuối kỳ và kết quả đánh giá rủi ro theo quy định. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Hội đồng tư vấn để xem xét, xác định mức kinh phí phải hoàn trả ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Thành phần Hội đồng tư vấn, phương thức làm việc của Hội đồng tư vấn thực hiện dựa trên quy định tại khoản 3, điểm a, điểm b khoản 4 Điều 7 Quy định này.

7. Không quá 45 ngày kề từ thời điểm nhận được hồ sơ đánh giá cuối kỳ họp lệ, Sở Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm gửi văn bản thông báo kết quả đánh giá và báo cáo đánh giá cho tổ chức chủ trì và cập nhật trên cổng dịch vụ công trực tuyến, nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo điểm đ khoản 4 Điều 17 Nghị định 267/2025/NĐ-CP.