Điều 14. Quản lý khai thác, sử dụng nước mặt
1. Việc khai thác, sử dụng nước mặt phải đảm bảo dòng chảy tối thiểu, không được làm ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, cản trở dòng chảy, hư hại công trình trên sông, gây trở ngại cho giao thông thủy, phải có các biện pháp phòng, chống sạt, lở bờ, bãi sông.
2. Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân cấp huyện lập danh mục ao, hồ không được san lấp trên địa bàn tỉnh trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và công bố.
3. Các hoạt động cải tạo lòng, bờ, bãi sông, xây dựng công trình thủy, khai thác cát trên sông trên địa bàn tỉnh không được gây sạt, lở, làm ảnh hưởng xấu đến sự ổn định lòng, bờ, bãi sông và phải được Sở Tài nguyên và Môi trường chấp thuận bằng văn bản.
4. Định kỳ hàng năm, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức điều tra, khảo sát các sông, kênh, rạch trên địa bàn tỉnh; phân loại theo mức độ, phạm vi ô nhiễm, cạn kiệt, lập thứ tự ưu tiên, xây dựng kế hoạch phục hồi trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, phê duyệt. Nguồn kinh phí để thực hiện được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước của tỉnh.
5. Hàng năm, trước ngày 30 tháng 11, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm rà soát, thống kê, tổng hợp danh sách các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác, sử dụng nước mặt thuộc các trường hợp phải lập hồ sơ cấp giấy phép nhưng chưa thực hiện việc lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, quản lý.