Điều 12. Vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất
1. Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh; lập danh mục và bản đồ khoanh vùng phạm vi từng vùng cấm, vùng hạn chế khai thác theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định.
2. Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện, quản lý, kiểm tra, giám sát việc khai thác, sử dụng nước dưới đất trên địa bàn quản lý, đảm bảo tài nguyên nước dưới đất được khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, phòng chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn tài nguyên này. Trường hợp trong quá trình quản lý, kiểm tra, giám sát việc khai thác, sử dụng nước dưới đất trên địa bàn xét thấy cần thiết phải tiến hành điều chỉnh danh mục các vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản báo cáo, đề nghị gửi đến Ủy ban nhân dân cấp huyện. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổng hợp và có văn bản đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét, kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định việc điều chỉnh.
3. Các tổ chức, cá nhân khai thác nước dưới đất phải có phương án khai thác nguồn nước khác để thay thế trong trường hợp xảy ra sự cố ô nhiễm nguồn nước dưới đất hoặc khu vực khai thác nước dưới đất nằm trong vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất.