Điều 8. Thu nộp tiền bán tài sản Nhà nước
1. Tài sản Nhà nước tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập: số tiền thu được từ bán tài sản sau khi trừ chi phí hợp lý có liên quan, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đối với những đơn vị sự nghiệp công lập được giao tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ thì thực hiện theo chế độ hiện hành.
2. Tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước do vi phạm hành chính và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước:
a) Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán tài sản đều phải được tập trung vào tài khoản tạm giữ của cơ quan tài chính mở tại Kho bạc Nhà nước và do cơ quan tài chính quản lý. Số tiền thu được từ bán tài sản do cấp nào bán thì tập trung vào tài khoản tạm giữ của cơ quan tài chính cấp đó mở tại Kho bạc Nhà nước;
b) Toàn bộ số tiền thu này sau khi đã trừ các chi phí có liên quan (được quy định chi tiết tại Thông tư số 04/2006/TT-BTC ngày 18/01/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 72/2004/TT-BTC ngày 15/7/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ Nhà nước do vi phạm hành chính), được nộp vào ngân sách Nhà nước cùng cấp để quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.
3. Người bán đấu giá có trách nhiệm thu nộp đủ số tiền bán đấu giá tài sản của người được mua tài sản bán đấu giá. Thời gian thanh toán tiền mua tài sản bán đấu giá thực hiện đúng theo quy định hiện hành.