Điều 7. Thực hiện Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản Nhà nước
1. Tài sản Nhà nước tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập đã có chủ trương bán đấu giá, theo quy định phải tổ chức bán đấu giá theo hình thức hợp đồng ủy quyền bán đấu giá (trừ các loại tài sản quy định hiện hành của UBND tỉnh phải bán đấu giá thông qua Hội đồng bán đấu giá).
2. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý về tài sản đó theo phân cấp, có trách nhiệm ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản với Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá trực thuộc Sở Tư pháp để tổ chức bán đấu giá theo luật định.
3. Việc ký kết và thực hiện hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản được thực hiện theo các quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ và Bộ Luật Dân sự.
Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản được ký kết giữa Giám đốc Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá với người có tài sản bán đấu giá hoặc người đại diện của người đó (Mẫu số 02 – Thông tư số 03/2005/TT-BTP ngày 04/5/2005 của Bộ Tư pháp).
4. Trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày cấp có thẩm quyền phê duyệt giá khởi điểm bán đấu giá, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý về tài sản đã có chủ trương bán đấu giá chuyển giao hồ sơ và ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản với Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá trực thuộc Sở Tư pháp. Hồ sơ chuyển giao bao gồm: văn bản cho phép bán đấu giá tài sản, văn bản phê duyệt giá khởi điểm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các giấy tờ khác có liên quan đến tài sản bán đấu giá.
5. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý về tài sản đã có chủ trương bán đấu giá có trách nhiệm bảo quản tài sản Nhà nước cho đến khi hoàn tất việc bán đấu giá và bàn giao tài sản cho khách hàng trúng đấu giá mua tài sản.