vanban.org

Điều 13. Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở — Quyết định 53/2005/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ
Cần Thơ Ban hành 11/08/2005 Hiệu lực 21/08/2005 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 53/2005/QĐ-UB › Chương II › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở

Áp dụng theo quy định tại Điều 13 Nghị định 197/2004/NĐ-CP và khoản 5 Phần II Thông tư số 116/2004/TT-BTC, cụ thể như sau:

Việc xác định đất là đất ở đai khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo đất ở căn cứ theo quy định tại Điều 50, 83, 84, 87 Luật Đất đai và Điều 45, 46, 47, 48, 79, 80 Nghị định số 224/2004/NĐ-CP và thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan tài nguyên và môi trường.

1. Một số quy định cụ thể:

1.1. Diện tích đất ở là diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp;

1.2. Xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao:

1.2.1. Đất vườn, ao được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất có nhà ở trong khu dân cư.

1.2.2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì diện tích đất vườn, ao đó được xác định là đất ở.

1.2.3. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất có vườn, ao được xác định theo giấy tờ đó.

1.2.4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất có vườn, ao được xác định như sau:

a) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định của ủy ban nhân dân thành phố thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở của ủy ban nhân dân thành phố  .

b) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định của ủy ban nhân dân thành phố thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.

1.2.5. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai thì diện tích đất ở có vườn, ao được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân theo quy định công nhận hạn mức đất ở của ủy ban nhân dân thành phố.

2. Việc bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở được quy định như sau:

2.1. Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu tái định cư hoặc được bồi thường bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương;

2.2. Diện tích đất bồi thường bằng giao đất ở mới cho người có đất bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất ở tại địa phương; trường hợp đất ở bị thu hồi có diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở thì ủy ban nhân dân thành phố căn cứ vào quỹ đất của địa phương và số nhân khẩu của hộ gia đình bị thu hồi đất xem xét, quyết định giao thêm một phần diện tích đất ở cho người bị thu hồi đất, nhưng không vượt quá diện tích đất ở bị thu hồi.