Điều 24. Chế độ thông tin, báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
1. Báo cáo định kỳ về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
a) Báo cáo định kỳ được thực hiện một năm một lần; thời hạn chốt số liệu trong chế độ báo cáo hằng năm tính từ ngày 15 tháng 12 năm trước kỳ báo cáo đến ngày 14 tháng 12 của kỳ báo cáo;
b) Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương phải thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý của mình theo quy định của cơ quan quản lý trực tiếp;
c) Báo cáo định kỳ của các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp xã gửi về Công an tỉnh (qua Phòng An ninh chính trị nội bộ) chậm nhất vào ngày 17 tháng 12 của năm báo cáo để tổng hợp và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Công an;
d) Công an tỉnh có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng báo cáo định kỳ hằng năm về công tác bảo vệ bí mật nhà nước gửi Bộ Công an để tập hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ chậm nhất vào ngày 20 tháng 12 của năm báo cáo.
2. Nội dung báo cáo định kỳ về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
a) Phân tích, đánh giá tình hình liên quan đến công tác bảo vệ bí mật nhà nước.
b) Kết quả thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước; ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
c) Tình hình, số liệu các vụ lộ, mất bí mật nhà nước; nguyên nhân và việc xử lý, khắc phục hậu quả.
d) Dự báo tình hình, dự kiến công tác trọng tâm bảo vệ bí mật nhà nước và đề xuất, kiến nghị.
3. Báo cáo đột xuất được thực hiện ngay sau khi phát hiện vụ lộ, mất bí mật nhà nước hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh, của Bộ Công an.