Điều 11. Quy hoạch điểm dân cư nông thôn (trung tâm xã, trung tâm cụm xã, thị tứ và các điểm dân cư thôn xóm, bản làng)
1. Chủ đầu tư được giao thực hiện quy hoạch điểm dân cư nông thôn phải lập nhiệm vụ quy hoạch. Sau khi nhiệm vụ quy hoạch được phê duyệt, hoàn chỉnh đồ án quy hoạch, Chủ đầu tư trình Ủy ban nhân dân cấp xã để thông qua Hội đồng nhân dân ra Nghị quyết trước khi Ủy ban nhân dân huyện, thị phê duyệt.
2. Thời gian lập quy hoạch điểm dân cư nông thôn không quá 06 tháng, kể từ ngày được giao nhiệm vụ chính thức.
3. Phòng Quản lý đô thị hoặc Phòng Hạ tầng kinh tế tổ chức thẩm định nhiệm vụ quy hoạch, đồ án quy hoạch trong thời gian 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
4. Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch, đồ án quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn sau khi được Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua bằng Nghị quyết, Tờ trình xin phê duyệt của Ủy ban nhân dân cấp xã và văn bản thẩm định của Phòng Quản lý đô thị hoặc Phòng Hạ tầng kinh tế trong thời gian 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Nếu Hội đồng thẩm định đồ án quy hoạch xây dựng của huyện, thị không tự tổ chức thẩm định được thì Ủy ban nhân dân huyện, thị gửi hồ sơ trình Sở Xây dựng tổ chức thẩm định trước khi phê duyệt.
5. Điều chỉnh quy hoạch điểm dân cư nông thôn khi có một trong các trường hợp sau:
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương được điều chỉnh làm thay đổi đến cơ cấu lao động ngành nghề của địa phương, nhu cầu tăng, giảm dân số của địa phương;
- Các điều kiện về địa lý, tự nhiên có biến động như thay đổi ranh giới hành chính, sụt lở, lũ lụt, động đất và các yếu tố khác có ảnh hưởng đến dự báo về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.