Điều 13. Giá thành sản phẩm dịch vụ:
1. Giá thành sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ được tính theo phương pháp quy định của Bộ Tài chính (Bình quân gia quyền; Nhập trước - Xuất trước; Nhập sau - Xuất trước; Thực tế đích danh).
Khi thay đổi phương pháp tính giá thành, công ty phải đăng ký và thông báo với cơ quan thuế và cơ quan tài chính theo quy định, đồng thời phải có giải trình về sự chênh lệch kết quả tính giá thành do thay đổi phương pháp tính toán.
2. Chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ: Trường hợp do chu kỳ sản xuất sản phẩm dài hoặc sản xuất mang tính đặc thù, tuỳ theo tình hình cụ thể Chủ tịch công ty quyết định mức phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp vào cho số lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ và sản phẩm tồn kho cuối kỳ, đảm bảo giá thành sản phẩm tồn kho cuối kỳ không cao hơn giá trị có thể thu hồi được.
3. Chi phí bán hàng phát sinh trong kỳ.
4. Chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, chênh lệch tỷ giá của các khoản nợ vay dài hạn bằng ngoại tệ.
5. Giá trị tài sản tổn thất thực tế, nợ không thu hồi được.
Đối với các hoạt động theo hình thức hợp đồng hợp tác liên doanh, theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm thì công ty phải tổ chức hạch toán riêng doanh thu và chi phí sản xuất tương ứng với số lượng sản phẩm được chia. Trường hợp theo hình thức hợp đồng chia lợi nhuận, lợi nhuận được chia từ hoạt động hợp tác liên doanh được hạch toán vào thu nhập tài chính của doanh nghiệp.
Đối với phần thực hiện nhiệm vụ công ích nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch công ty phải xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch riêng về sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích trong kế hoạch hàng năm của công ty. Việc tổng hợp giao kế hoạch thực hiện theo đúng qui định hiện hành. Chủ sở hữu thực hiện thanh quyết toán đối với sản phẩm dịch vụ công ích đặt hàng hoặc giao chủ hàng.