Điều 13. Hỗ trợ di dời vật nuôi; h ỗ trợ để tháo dỡ , phá dỡ, di dời tài sản gắn liền với đất là phần công trình xây dựng theo giấy phép xây dựng có thời hạn theo pháp luật về xây dựng mà đến thời điểm thu hồi đất giấy phép đã hết thời hạn
1. Mức hỗ trợ di dời vật nuôi khi Nhà nước thu hồi đất cho chủ sỡ hữu vật nuôi quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP như sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân chăn nuôi gia súc quy mô từ 10 đến dưới 50 con, gia cầm quy mô từ 100 đến dưới 500 con phải di dời khi Nhà nước thu hồi đất, mức hỗ trợ bằng tiền là 500.000 đồng;
b) Hộ gia đình, cá nhân chăn nuôi gia súc quy mô từ 50 con trở lên, gia cầm quy mô từ 500 con trở lên phải di dời khi Nhà nước thu hồi đất, mức hỗ trợ bằng tiền là 1.000.000 đồng;
c) Hộ gia đình, cá nhân chăn nuôi động vật khác quy mô từ 10 con trở lên phải di dời khi Nhà nước thu hồi đất, mức hỗ trợ bằng tiền là 500.000 đồng;
d) Tổ chức, cá nhân có cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di dời vật nuôi thì tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm xác minh thực tế, lập phương án hỗ trợ đối với từng trường hợp cụ thể gửi hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về nông nghiệp cấp huyện chủ trì thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trong cùng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
2. Hỗ trợ tháo dỡ, phá dỡ, di dời cho chủ sở hữu công trình quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP như sau:
a) Chủ sở hữu công trình tự kê khai công trình, tài sản gắn liền trên đất;
b) Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi và các tổ chức, cá nhân có liên quan xác minh thực tế và lập chi phí tháo dỡ, phá dỡ, di dời tài sản gắn liền với đất gửi hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc nông nghiệp thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trong cùng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.