Điều 5. Quản lý quỹ đất công ích
1. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà soát, kiểm kê trên thực địa và hồ sơ địa chính để thiết lập danh mục về vị trí, diện tích, loại đất, tình trạng sử dụng các loại đất công cộng, đất công ích, đất chưa sử dụng nêu tại Điều 4 Quy định này để làm cơ sở quản lý chặt chẽ.
2. Lập hồ sơ địa chính để quản lý quỹ đất công ích. Hồ sơ địa chính phải được cập nhật đầy đủ thông tin đối với các khu đất này. Khi có biến động về sử dụng đất thì Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng (đối với nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai), công chức địa chính cấp xã phải chỉnh lý biến động kịp thời vào hồ sơ địa chính, gửi thông báo biến động và kê khai đăng ký theo quy định.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý biến động đất công ích, trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất tại các khoản 1, 2, 3 Điều 6 của Quy định này thì phải thực hiện việc chỉnh lý biến động theo quy định của pháp luật đất đai.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ, các giấy tờ có liên quan đối với thửa đất và phải kê khai đăng ký đất tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường và khi có biến động (nếu có). Khi thay đổi các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch phụ trách công tác địa chính, công chức địa chính xã thì lập thủ tục bàn giao hồ sơ quỹ đất công ích từ người cũ sang người mới. Khi bàn giao có chứng kiến của Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện.
5. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện, trong đó có việc sử dụng đất công ích trình Ủy ban nhân dân Tỉnh phê duyệt trong Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện.
6. Hàng năm Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm ban hành quyết định phê duyệt danh mục quỹ đất công ích do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý để đưa vào khai thác, sử dụng.