Điều 4. Xác định độ mật, thay đổi độ mật, giải mật, sửa đổi, bổ sung Danh mục bí mật nhà nước
1. Căn cứ Danh mục bí mật nhà nước của các Bộ, ban, ngành Trung ương; Danh mục bí mật nhà nước của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân UBND đã được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định, ban hành, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức đối chiếu có văn bản (xây dựng quy chế quy định cụ thể độ mật (Tuyệt mật, Tối mật, Mật) của từng loại tin, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước thuộc đơn vị địa phương mình soạn thảo để quản lý theo quy định.
2. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nếu phát sinh tin, tài liệu do đơn vị mình quản lý cần được bảo mật nhưng chưa được quy định trong Danh mục bí mật nhà nước hoặc cần thay danh mục thay đổi độ mật, giải mật danh mục bí mật nhà nước đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt, ban hành, các cơ quan, đơn vị, địa phương làm văn bản báo cáo, đề xuất Chủ tịch UBND tỉnh để đề xuất Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
3. Hàng năm chậm nhất trước ngày 20 tháng 4 các cơ quan, đơn vị, địa phương báo cáo UBND tỉnh (qua Công an tỉnh - Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo bảo vệ bí mật nhà nước tỉnh) kết quả rà soát đề xuất sửa đổi, bổ sung, giải mật danh mục bí mật nhà nước độ Tuyệt mật, Tối mật và Mật thuộc lĩnh vực phụ trách.
4. Giao Công an tỉnh chịu trách nhiệm tổng hợp ý kiến đề xuất của các cơ quan, đơn vị, địa phương đề xuất và tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an.