Điều 19. Chế độ báo cáo, sơ kết, tổng kết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
1. Thủ trưởng các cơ quan tổ chức phải thực hiện đầy đủ chế độ thông tin báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định.
a) Báo cáo kịp thời những vụ việc liên quan đến lộ lọt mất hư hỏng tài liệu vật mang bí mật nhà nước hoặc các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước gây phương hại đến lợi ích của Nhà nước và cơ quan.
b) Báo cáo toàn diện về công tác bảo vệ bí mật nhà nước định kỳ hàng năm/01 lần; báo cáo sơ tổng kết 05 năm/01 lần.
2. Chế độ báo cáo quy định như sau:
a) Báo cáo của cơ quan tổ chức cấp huyện, thành, thị gửi UBND huyện, thành, thị và Công an cùng cấp đồng kính gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp.
b) Báo cáo của UBND các huyện, thành, thị, các sở ngành cơ quan trực thuộc UBND tỉnh; cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh gửi UBND tỉnh và Công an tỉnh đồng kính gửi cơ quan quản lý trực tiếp.
c) Báo cáo của UBND tỉnh gửi Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công an.
d) Thời gian đánh giá báo cáo tính từ ngày 20/10 năm trước đến ngày 20/10 năm kế tiếp và gửi báo cáo trước ngày 25/10 hàng năm.
e) Báo cáo đột xuất thực hiện ngay khi có vụ việc xảy ra.
3. Sơ kết, tổng kết về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước
Thường trực Ban Chỉ đạo công tác bảo vệ bí mật nhà nước tỉnh chịu trách nhiệm giúp UBND tỉnh hàng năm tổ chức sơ kết và 5 năm một lần tổ chức tổng kết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh. Việc gửi báo cáo sơ kết, báo cáo tổng kết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.