Điều 4. Nguyên tắc bảo đảm an toàn thông tin mạng
1. Việc bảo đảm an toàn thông tin mạng là yêu cầu bắt buộc trong quá trình thiết kế, xây dựng, vận hành, nâng cấp, sử dụng và hủy bỏ trong ứng dụng CNTT của cơ quan nhà nước.
2. Việc thực hiện các phương pháp bảo đảm an toàn thông tin phải tuân theo quy định của Luật An toàn thông tin mạng, Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về việc bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ và quy định của pháp luật có liên quan.
3. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị là người chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng.
4. Xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trưởng, các phòng, ban và từng cá nhân trong cơ quan, đơn vị đối với công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng.
5. Bố trí nguồn lực phù hợp với quy mô, điều kiện của cơ quan, đơn vị nhằm thực hiện tốt nhất công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng.
6. Những văn bản có chứa nội dung bí mật nhà nước phải được quản lý theo chế độ mật theo quy định của pháp luật hiện hành. Không được truyền tải trên mạng nếu chưa có sự đồng ý của Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và phải được mã hóa theo quy định của Luật Cơ yếu.
7. Các cơ quan, đơn vị phải bố trí máy tính riêng, nghiêm cấm hành vi sử dụng máy tính có kết nối Internet, mạng nội bộ (LAN) hay các thiết bị thông minh để soạn thảo văn bản có nội dung bí mật nhà nước.
8. Hoạt động bảo đảm an toàn thông tin mạng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, hiệu quả trên cơ sở tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định về an toàn thông tin mạng.