Điều 11. Quản lý cảnh quan ven sông, rạch
1. Cảnh quan dọc các sông sạch cần quản lý, giữ gìn và khai thác một cách hiệu quả; cùng với hệ thống công viên, cảnh quan cây xanh ven sạch tạo nên không gian xanh cho thành phố, là nơi sinh hoạt, vui chơi giải trí cho cộng đồng.
2. Cần kết hợp kè cảnh quan với bảo vệ vùng đệm sinh thái ven sông. Tuỳ theo điều kiện hiện trạng khu dân cư hai bên sông rạch, đề xuất phạm vi không gian cảnh quan bảo vệ một cách hợp lý để bố trí các hạng mục kè, đường dạo, khuôn viên cây xanh. Phạm vi bảo vệ được xác lập cụ thể trong đồ án quy hoạch phân khu, chi tiết; trường hợp xây dựng công trình khu vực chưa xác định cụ thể phạm vi này thì yêu cầu đảm bảo công trình xây dựng lùi tối thiểu 10m áp dụng đối với khu đô thị hiện hữu, tối thiểu 20m áp dụng đối với khu đô thị mới (khoảng lùi áp dụng từ công trình đến đỉnh mái kè hoặc đỉnh bờ tự nhiên của sông, rạch).
3. Không gian cây xanh, mặt nước ven sông rạch cần hạn chế tối đa xây dựng và khai thác công trình dịch vụ. Trường hợp có bố trí công trình thì mật độ xây dựng tối đa không quá 5%; chiều cao từ 1 - 2 tầng.
4. Cây xanh, hoa, cỏ trồng trong thảm xanh ven sông rạch phải được thiết kế, chọn lọc chủng loại đảm bảo ý đồ tổ chức không gian, đẹp, đặc trưng, phù hợp điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, đặc biệt khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Cần khai thác hình ảnh cây dừa trong các công viên tạo yếu tố đặc trưng của thành phố.
5. Trường hợp đối với khu vực cảnh quan ven sông rạch nếu đưa vào khai thác các công trình dịch vụ phải được nghiên cứu đảm bảo không ảnh hưởng đến sinh hoạt cộng đồng, các chỉ tiêu kiến trúc quy hoạch phải được kiểm soát nhằm đảm bảo phù hợp với không gian, tầm nhìn cảnh quan chung khu vực.
6. Đối với công trình quy hoạch dọc theo các tuyến cảnh quan, nhất là các con sông lớn của thành phố như sông Hàm Luông, sông Bến Tre phải được nghiên cứu đảm bảo khai thác hiệu quả không gian, có điểm nhấn phù hợp, kết hợp hài hoà giữa công trình cao tầng và thấp tầng.