vanban.org

Điều 7. Khảo sát — Quyết định 40/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 30/10/2016 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 30/10/2016 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 24/2016/QĐ-UBND · 10/10/2016
Khánh Hòa Ban hành 06/12/2011 Hiệu lực 16/12/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 14 năm
Quyết định số 40/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy định về Quy trình thanh tra chấp hành pháp luật về thanh tra kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. · 40/2011/QĐ-UBND
30/10/201624/2016/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 16/12/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 40/2011/QĐ-UBND › Chương II › Mục 1 › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Khảo sát

Thực hiện Mục 3, Chương VI Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ, cụ thể như sau:

1.  Khảo sát trước khi ra quyết định thành lập Đoàn thanh tra

a) Cơ quan thanh tra nhà nước có trách nhiệm thường xuyên thu thập thông tin về việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ được giao của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi thẩm quyền thanh tra để phục vụ quản lý nhà nước về công tác thanh tra và hoạt động thanh tra. Việc thu thập thông tin được tiến hành thông qua các hình thức: Quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng; thu thập, phân tích, đánh giá thông tin từ báo chí; các cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi thẩm quyền thanh tra cung cấp thông tin, báo cáo bằng văn bản và cử công chức thu thập thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi thẩm quyền thanh tra;

b) Việc cử công chức thu thập thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi thẩm quyền thanh tra để phục vụ cho việc ra quyết định thanh tra được thực hiện khi Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước giao tiến hành thanh tra đột xuất đối với những vụ việc phức tạp, đặc biệt phức tạp. Việc thu thập thông tin thống qua Giấy giới thiệu hoặc quyết định của cơ quan thanh tra nhà nước cử công chức thu thập thông tin;

c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin về tình hình chấp hành chính sách, pháp luật, thực hiện nhiệm vụ được giao theo yêu cầu của cơ quan thanh tra nhà nước hoặc theo yêu cầu của công chức được cử thu thập thông tin và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của báo cáo và thông tin, tài liệu đó;

d) Cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin có quyền từ chối cung cấp thông tin không thuộc phạm vi nhiệm vụ được giao; có quyền tố cáo, khiếu nại đối với hành vi trái pháp luật của công chức tiến hành thu thập thông tin, tài liệu;

e) Kết thúc việc thu thập thông tin, công chức được cử thu thập thông tin phải báo cáo bằng văn bản về việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Báo cáo kết quả thu thập thông tin phải có các nội dung được giao thu thập, trong đó có nhận định về những dấu hiệu sai phạm (nếu có), đề xuất những nội dung cần thanh tra và cách thức tổ chức thực hiện; các thông tin liên quan đến những nội dung dự kiến thanh tra.

2. Khảo sát sau khi ra quyết định thành lập Đoàn thanh tra

Đối với cuộc thanh tra theo chương trình, kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt thì không phải khảo sát trước khi ban hành quyết định thanh tra. Đối với các cuộc thanh tra cần khảo sát bổ sung thì việc khảo sát do người ra quyết định thanh tra quyết định.

3. Thời gian khảo sát tối đa không quá 15 ngày làm việc, tính từ ngày bắt đầu khảo sát. Người được giao nhiệm vụ khảo sát có trách nhiệm tổng hợp, phân tích, đánh giá các thông tin thu thập được, lập báo cáo kết quả khảo sát gửi người ra quyết định thanh tra. Báo cáo kết qủa khảo sát gồm các nội dung sau:

a) Khái quát chung thực trạng tình hình của đơn vị, địa phương là đối tượng thanh tra: về mô hình tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị và một số thông tin chung khác;

b) Thu thập thông tin theo từng nội dung mà người ra quyết định thanh tra yêu cầu, gồm:

- Các báo cáo kết luận thanh tra của cơ quan thanh tra; báo cáo kết quả thanh tra của Đoàn thanh tra; các bản sửa được lưu hồ sơ; các tài liệu trao đổi ý kiến, xin ý kiến chỉ đạo; các tài liệu khác có liên quan;  

-  Các báo cáo định kỳ, đột xuất và các báo cáo gửi đến cơ quan cấp trên, cơ quan thuế và tài chính theo quy định và các thông tin khác;

- Các thông tin, tài liệu khác;

- Trong trường hợp cần thiết, có thể thu thập các thông tin đã đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng;

- Thủ trưởng cơ quan ra quyết định thanh tra yêu cầu các đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý của mình cung cấp các thông tin, tài liệu khác có liên quan để phục vụ cho công tác thanh tra.

c) Nhận định, đánh giá chung và đề xuất những nội dung cần thanh tra.

4. Đối với các cuộc thanh tra đột xuất:

Căn cứ tình hình vi phạm pháp luật phát hiện qua tin báo, thông tin đại chúng hoặc qua công tác quản lý nhà nước phục vụ cho yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo  thì Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp hoặc Chánh thanh tra ra quyết định thanh tra, thành lập Đoàn thanh tra mà không phải tổ chức khảo sát.