Điều 14. Hội đồng sáng kiến
1. Người đứng đầu cơ sở xét công nhận sáng kiến hoặc cá nhân được người đứng đầu ủy quyền có thể thành lập Hội đồng sáng kiến để đánh giá giải pháp được yêu cầu công nhận sáng kiến làm căn cứ quyết định công nhận sáng kiến.
2. Hội đồng sáng kiến, có từ 7 đến 11 thành viên, bao gồm: Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng, ủy viên thư ký và các ủy viên. Thành viên Hội đồng phải là các chuyên gia hoặc những người có trình độ chuyên môn về lĩnh vực có liên quan đến nội dung sáng kiến, đại diện của tổ chức công đoàn nơi tác giả là công đoàn viên (nếu có) và các thành phần khác theo quyết định của người đứng đầu hoặc cá nhân được người đứng đầu ủy quyền cơ sở xét công nhận sáng kiến. Quyết định của Hội đồng được thông qua theo nguyên tắc biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín với ít nhất 2/3 ý kiến đồng ý của các thành viên Hội đồng. Tác giả sáng kiến không được tham gia là thành viên Hội đồng sáng kiến.
3. Trường hợp sáng kiến được tạo ra do Nhà nước đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật và người đứng đầu cơ sở xét công nhận sáng kiến chính là tác giả thì sáng kiến đó phải được đánh giá thông qua Hội đồng sáng kiến.
4. Nội dung và mức chi: Chi hỗ trợ tiền nghiên cứu, thẩm định hồ sơ; chi phục vụ các cuộc họp của Hội đồng sáng kiến; chi cho công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện theo quy định hiện hành.
5. Hội đồng sáng kiến có nhiệm vụ tổ chức, đánh giá một cách khách quan, trung thực giải pháp được yêu cầu công nhận sáng kiến theo các điều kiện quy định tại Điều 4 của quy định này và lập báo cáo đánh giá. Trong đó phản ánh đầy đủ ý kiến của các thành viên, kết quả biểu quyết của Hội đồng.