Điều 22. Chuyển nhượng cổ phần.
1. Cổ phần của cổ đôngnắm giữ cổ phiếu có ghi tên hoặc không ghi tên được coi là đã chuyển nhượng khicác thông tin quy định trong Điều 24 của Điều lệ này được ghi đầy đủ trong sổ đăng ký cổ đông.
2. Tổng mức chuyển nhượngcổ phiếu có ghi tên (kể từ lần chuyển nhượng gần nhất được đăng ký tại Ngânhàng Nhà nước) vượt quá 20% vốn điều lệ và việc thay đổi tỷ lệ cổ phiếu của cáccổ đông lớn phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
3. Cổ phần phổ thông của cổ đông sánglập có thể chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông nếu được sự chấpthuận của Đại hội đồng cổ đông và phải đảm bảo là trong thời hạn ba năm đầu kểtừ ngày Ngân hàng được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sánglập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chàobán. Cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng cổ phần không được biểu quyết vềviệc chuyển nhượng các cổ phần đó.
4. Việc chuyển nhượngcổ phiếu có ghi tên và không ghi tên, được thực hiện căn cứ theo các quy địnhcủa Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định hướng dẫn thi hành. Hình thứcchuyển nhượng được xác lập bằng văn bản do Hội đồng quản trị quy định cụ thể.Văn bản chuyển nhượng được người chuyển nhượng, người nhận chuyển nhượng haydại diện được ủy quyền hợp pháp của những người này ký. Cổ phiếu đã được chuyển nhượng khighi đúng và đủ những thông tin tại điểm d khoản 1 Điều 24 của Điều lệ này vàosổ đăng ký cổ đông; kể từ thờiđiểm đó, người nhận chuyển nhượng cổ phần được công nhận là cổ đông của ngânhàng.
5. Trình tự thủ tụcxin thầu đổi cổ phần có ghi tên của cổ đông phải thực hiện theo đúng quy địnhcủa Ngân hàng Nhà nước.
6. Trong trường hợpmột cổ đông bị chết, việc giải quyết quyền lợi, trách nhiệm của cổ đông đượcthực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế.
7. Ngân hàng phải chấphành các quy định về niêm yết, phát hành cổ phiếu tại Trung tâm Giao dịch chứngkhoán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, quy định của Uỷ ban Chứng khoán Nhànước, Điều lệ của Ngân hàng và các quy định pháp luật hiện hành có liên quan.