Điều 12. Chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
1. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương do Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý phải thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý của mình theo quy định tại Quy chế này.
2. Báo cáo của sở, ban, ngành cấp tỉnh và tương đương; Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi về Công an tỉnh để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Công an, Thủ tướng Chính phủ theo thời hạn như sau:
a) Báo cáo sơ kết hàng năm: Lấy số liệu báo cáo từ ngày 01/12 năm trước đến ngày 30/11 của năm báo cáo và gửi về Công an tỉnh (qua Phòng An ninh chính trị nội bộ) chậm nhất vào ngày 05/12 của năm báo cáo.
b) Báo cáo tổng kết 05 năm một lần: Thực hiện theo hướng dẫn riêng.
c) Báo cáo đột xuất được thực hiện ngay sau khi phát hiện vụ lộ, mất bí mật nhà nước hoặc hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
3. Nội dung báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước hàng năm thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 26/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.
4. Việc tổ chức sơ kết, tổng kết do Công an tỉnh có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện; đồng thời tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh nội dung báo cáo của tỉnh về công tác bảo vệ bí mật nhà nước để gửi cấp có thẩm quyền theo quy định (Hoàn thành trước ngày 20/12 hàng năm).