Điều 5. Hạn mức công nhận đất ở theo quy định tại Điều 103, Luật Đất đai
1. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao trong cùng một thửa đất được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở, thì được công nhận như sau:
a) Hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình có từ 01- 04 khẩu:
- Đối với các phường thuộc thành phố: 200 m2;
- Đối với các phường thuộc thị xã và thị trấn: 240 m2;
- Đối với các hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp thuộc các phường và thị trấn: 250 m2;
- Đối với các xã trung du: 300 m2;
- Đối với xã miền núi, xã vùng cao: 400 m2.
b) Trường hợp hộ gia đình có từ khẩu thứ 5 trở lên thì mỗi khẩu tăng thêm được cộng vào hạn mức công nhận đất ở tại Điểm a Khoản này:
- Đối với các phường thuộc thành phố: 35 m2/01 nhân khẩu;
- Đối với các phường thuộc thị xã và thị trấn: 40 m2/01 nhân khẩu;
- Đối với hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp thuộc các phường và thị trấn: 50 m2/01 nhân khẩu;
- Đối với các xã trung du: 75 m2/01 nhân khẩu;
- Đối với các xã miền núi, xã vùng cao: 100 m2/01 nhân khẩu.
Trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn so với hạn mức trên thì diện tích đất ở được công nhận là toàn bộ diện tích thửa đất;
Trường hợp thửa đất có diện tích lớn hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 1 Điều này, thì diện tích công nhận đất ở tối đa cho các trường hợp quy định tại điểm b, Khoản 1, Điều này không vượt quá 05 lần hạn mức quy định tại Khoản 1, Điều 4 Quy định này.
2. Số lượng nhân khẩu để xác định diện tích đất ở theo quy định tại Điều này là số khẩu hiện có trong cùng một sổ hộ khẩu của hộ gia đình đó tại thời điểm xét công nhận quyền sử dụng đất và hộ gia đình đã hình thành do tách hộ theo quy định của pháp luật đang sống chung trên cùng thửa đất. Trong một hộ chỉ tính những người có quan hệ là vợ, chồng, con (kể cả con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp) bố, mẹ (kể cả bố mẹ nuôi, bố mẹ kế hợp pháp) cháu, chắt nội, cháu, chắt ngoại.
3. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà đất đã sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không vi phạm pháp luật đất đai, thì việc xác định diện tích đất ở được áp dụng theo Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Hạn mức công nhận đất ở theo quy định tại Khoản 1 Điều này.
4. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà đất đã sử dụng ổn định kể từ sau ngày 15 tháng 10 năm 1993, không vi phạm pháp luật đất đai thì diện tích đất ở được xác định theo hạn mức quy định tại Khoản 1, Điều 4, của Quy định này.