Điều 15. Giấy tờ về nhà, đất, công trình xây dựng trong các trường hợp khác
1. Trường hợp chủ sở hữu nhà ở, công trình xây dựng không đồng thời là chủ sử dụng đất ở khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận thì ngoài giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng theo quy định, phải có thêm văn bản của chủ sử dụng đất đồng ý cho phép sử dụng đất xây dựng nhà ở, công trình xây dựng đã được công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân từ cấp xã trở lên.
2. Tổ chức, cá nhân bị mất Giấy chứng nhận khi đề nghị cấp lại thì phải có các giấy tờ sau:
a. Giấy tờ xác nhận về việc mất giấy chứng nhận của cơ quan công an cấp xã nơi mất giấy;
b. Các trường hợp mất giấy không phải do thiên tai, hoả hoạn thì phải có giấy tờ chứng minh đã đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng một lần đối với khu vực đô thị (mẩu tin trên báo hoặc giấy xác nhận của cơ quan đăng tin) hoặc giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã trong thời hạn 10 ngày làm việc đối với khu vực nông thôn.
3. Tổ chức, cá nhân có Giấy chứng nhận bị hư hỏng, rách nát hoặc đã ghi hết trang xác nhận thay đổi, khi đề nghị cấp đổi phải có Giấy chứng nhận cũ.
4. Tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận, trong quá trình sử dụng mà có sự thay đổi về diện tích, tầng cao, kết cấu chính của nhà ở, công trình xây dựng; tách, nhập thửa đất đối với trường hợp được cấp Giấy chứng nhận, khi đề nghị xác nhận thay đổi phải có Giấy chứng nhận cũ và bản kê khai những nội dung thay đổi, trừ trường hợp trong đơn đề nghị xác nhận thay đổi đã có kê khai những nội dung thay đổi đó.