vanban.org

Điều 12. Giấy tờ về tạo lập nhà ở, đất ở, công trình xây dựng do cá nhân trong nước tạo lập trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2006 ) — Quyết định 38/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/04/2010 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 176/QĐ-UBND · 15/04/2010
Bình Định Ban hành 07/11/2007 Hiệu lực 17/11/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 38/2007/QĐ-UBND › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Giấy tờ về tạo lập nhà ở, đất ở, công trình xây dựng do cá nhân trong nước tạo lập trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2006)

Cá nhân trong nước tạo lập nhà ở, đất ở, công trình xây dựng trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành, khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận phải có một trong những giấy tờ chứng minh theo quy định sau:

1. Giấy phép xây dựng nhà ở đối với trường hợp phải xin giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng và những giấy tờ để được cấp phép xây dựng;

2. Quyết định bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước của UBND tỉnh theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở, và các biên lai nộp tiền mua nhà theo quy định hoặc các giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước từ trước ngày 05 tháng 7 năm 1994;

3. Giấy tờ về giao, tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết;

4. Giấy tờ về sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ mà nhà đất đó không thuộc diện Nhà nước xác lập sở hữu toàn dân theo quy định của Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khoá XI “về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”, Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11   ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”;

5. Giấy tờ về mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở, đất ở, công trình xây dựng đã có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân từ cấp xã trở lên; giấy tờ của Toà án hoặc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết cho được sở hữu nhà ở, công trình xây dựng đã có hiệu lực pháp luật; trường hợp mua nhà ở của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở, công trình xây dựng đã được hai bên ký kết (không cần phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp);

6. Các trường hợp tạo lập nhà ở, đất ở, công trình xây dựng trên đất đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được sử dụng vào mục đích làm đất ở, công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về đất đai;

7. Trường hợp người đề nghị cấp giấy chứng nhận có một trong những giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này nhưng không đúng tên trong các giấy tờ đó thì phải có thêm giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở, đất ở, công trình xây dựng được Ủy ban nhân dân cấp xã trở lên xác nhận hoặc trong đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc có nhà ở, đất ở, công trình xây dựng do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế theo quy định của pháp luật;

8. Trường hợp người đề nghị cấp giấy chứng nhận không có một trong những giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này thì phải có giấy tờ được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về hiện trạng nhà ở, đất ở, công trình xây dựng không có tranh chấp về quyền sở hữu, đối với công trình được xây dựng trước khi có quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch, đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn.