Điều 10. Sử dụng tài liệu tại phòng đọc
1. Phòng đọc tại Chi cục Văn thư - Lưu trữ phải tổ chức khoa học, đầy đủ các trang thiết bị và công cụ tra cứu cần thiết để phục vụ độc giả sử dụng tài liệu.
2. Chi cục Văn thư - Lưu trữ phải niêm yết Quy chế sử dụng tài liệu lưu trữ tại phòng đọc.
3. Tài liệu lưu trữ tại Chi cục Văn thư - Lưu trữ được sử dụng rộng rãi, trừ tài liệu thuộc Danh mục tài liệu hạn chế sử dụng và Danh mục tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật.
Tài liệu hạn chế sử dụng có một trong các đặc điểm sau đây:
a) Tài liệu lưu trữ không thuộc Danh mục tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật nhưng có nội dung thông tin nếu sử dụng rộng rãi có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
b) Tài liệu lưu trữ bị hư hỏng nặng hoặc có nguy cơ bị hư hỏng chưa được tu bổ, phục chế;
c) Tài liệu lưu trữ đang trong quá trình xử lý về nghiệp vụ lưu trữ.
4. Tài liệu lưu trữ thuộc Danh mục tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật được sử dụng rộng rãi trong các trường hợp sau đây:
a) Được giải mật theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;
b) Sau 40 năm, kể từ năm công việc kết thúc đối với tài liệu có đóng dấu mật nhưng chưa được giải mật;
c) Sau 60 năm, kể từ năm công việc kết thúc đối với tài liệu có đóng dấu tối mật, tuyệt mật nhưng chưa được giải mật.
5. Viên chức Phòng đọc giao hồ sơ, tài liệu cho độc giả sử dụng phải ký nhận vào Sổ giao, nhận tài liệu giữa Phòng đọc và độc giả.
6. Tài liệu thuộc diện quý, hiếm chỉ được sử dụng bản sao. Trong các trường hợp đặc biệt, người đứng đầu Lưu trữ lịch sử tỉnh quyết định cho phép sử dụng bản chính, bản gốc.
7. Trong quá trình khai thác, sử dụng tài liệu, độc giả không được chụp ảnh tài liệu; tẩy xóa thông tin trong tài liệu; làm đảo lộn trật tự sắp xếp của tài liệu trong hồ sơ và làm hư hại tài liệu như viết, đánh dấu, vẽ lên tài liệu, gấp, làm nhàu, xé rách, làm bẩn tài liệu.