Điều 5. Quản lý chất lượng khảo sát xây dựng
1. Khảo sát xây dựng bao gồm khảo sát địa hình, địa chất, thủy văn, khảo sát hiện trạng, độ lún, nghiêng, chuyển dịch... của công trình đang có và các nội dung khác phục vụ việc lập dự án đầu tư xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thiết kế sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp công trình hoặc phục vụ công tác khảo sát khác có liên quan đến hoạt động xây dựng. Trình tự quản lý chất lượng khảo sát xây dựng:
a) Lập và phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng;
b) Lập và phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng;
c) Quản lý chất lượng công tác khảo sát xây dựng;
d) Nghiệm thu, phê duyệt kết quả khảo sát xây dựng.
2. Nhiệm vụ khảo sát xây dựng do nhà thầu thiết kế lập. Trường hợp chưa lựa chọn được nhà thầu thiết kế, người quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư được thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực lập nhiệm vụ khảo sát xây dựng, nội dung quy định tại Khoản 3 Điều 12 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP.
Nhiệm vụ khảo sát xây dựng phải được Chủ đầu tư phê duyệt, phải phù hợp với quy mô, các bước thiết kế, tính chất công trình, điều kiện tự nhiên của khu vực xây dựng; đặc biệt khảo sát phải đủ, phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng, tránh lãng phí. Sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ khảo sát xây dựng được quy định tại Khoản 4 Điều 12 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP.
3. Phương án kỹ thuật khảo sát do nhà thầu khảo sát lập, chủ đầu tư phê duyệt trong đó phải phù hợp với nhiệm vụ khảo sát xây dựng, các tiêu chuẩn về khảo sát xây dựng được áp dụng. Nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP.
4. Quản lý chất lượng công tác khảo sát xây dựng: Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức giám sát, kiểm tra năng lực thực tế của nhà thầu khảo sát xây dựng, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện khảo sát xây dựng. Chủ đầu tư được quyền đình chỉ công việc khảo sát khi phát hiện nhà thầu không thực hiện đúng phương án khảo sát đã được phê duyệt hoặc các quy định của hợp đồng xây dựng.
5. Báo cáo kết quả khảo sát xây dựng phù hợp về quy cách, số lượng và nội dung so với nhiệm vụ, phương án khảo sát xây dựng được duyệt và quy định của hợp đồng xây dựng; Chủ đầu tư thông báo chấp thuận nghiệm thu bằng văn bản đến nhà thầu khảo sát và phê duyệt báo cáo kết quả khảo sát xây dựng, nếu chưa đạt có ý kiến bằng văn bản thông báo không chấp thuận, trong đó nêu rõ các nội dung chưa đạt, yêu cầu nhà thầu khảo sát phải chỉnh sửa hoặc phải thực hiện khảo sát lại.
Nội dung Báo cáo kết quả khảo sát xây dựng quy định tại Điều 15 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP. Nhà thầu khảo sát chịu trách nhiệm về chất lượng khảo sát, việc nghiệm thu và phê duyệt báo cáo không thay thế và không làm giảm trách nhiệm về chất lượng khảo sát xây dựng do nhà thầu thực hiện. Báo cáo kết quả khảo sát xây dựng là thành phần của hồ sơ hoàn thành công trình và được lưu trữ theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP.
6. Khảo sát xây dựng nhà ở riêng lẻ: Đối với nhà ở dưới 7 tầng, chủ nhà được tự thực hiện hoặc thuê cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện năng lực theo quy định để thực hiện khảo sát xây dựng. Trường hợp không thuê khảo sát xây dựng, chủ nhà có thể áp dụng một trong các phương pháp sau: kiểm tra trực tiếp thông qua hồ đào thủ công để xác định chiều dày, chất lượng các lớp đất và xác định lớp đất dự kiến đặt móng nhà; tham khảo số liệu khảo sát địa chất công trình, giải pháp xử lý nền móng của các công trình liên kết, lân cận; tham khảo số liệu địa chất công trình nơi xây dựng nhà ở do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp. Đối với nhà ở từ 7 tầng trở lên, việc khảo sát xây dựng phải được tổ chức khảo sát có đủ điều kiện năng lực theo quy định thực hiện.