Điều 5. Nguyên tắc khen thưởng và căn cứ xét khen thưởng
Thực hiện theo khoản 2 Điều 6 Luật thi đua, khen thưởng năm 2003 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013, khoản 2 Điều 10 Luật thi đua, khen thưởng năm 2003, Điều 3 Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và Điều 2 Thông tư số 12/2019/TT-BNV ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng; Thông tư 5/2020/TT-BNV ngày 09 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ bãi bỏ khoản 7 Điều 2 Thông tư 12/2019/TT-BNV ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Ngoài ra, còn được thực hiện theo các quy định sau:
1. Nguyên tắc khen thưởng
a) Thực hiện khen thưởng phải bảo đảm chính xác, công khai, công bằng và kịp thời trên cơ sở đánh giá đúng thành tích của các tập thể và cá nhân, đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn; khen thưởng theo công trạng, thành tích đạt được;
b) Cơ quan, đơn vị quản lý về tổ chức, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức người lao động và quỹ lương thì chủ trì phối hợp thực hiện xét khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng.
2. Căn cứ xét khen thưởng
Lập được thành tích trong quá trình công tác, học tập, lao động và sản xuất…, được cơ quan, đơn vị, địa phương bình xét hoặc lập được thành tích đột xuất, tiêu biểu, xuất sắc.