Điều 22. Bồi thường, hỗ trợ khác (Thực hiện Điều 25 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP)
1. Hỗ trợ gia đình chính sách
a) Hộ gia đình có người hoạt động cách mạng trước 01/01/1945; anh hùng lực lượng vũ trang; anh hùng lao động; bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh có tỷ lệ thương tật từ 81% trở lên; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; thân nhân liệt sỹ (được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ) đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng; người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945, phải phá dỡ nhà ở để thực hiện giải phóng mặt bằng, được hỗ trợ 3.000.000,0 đồng/hộ.
b) Hộ gia đình có người là thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh mất sức từ 21% - 80%, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, gia đình có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng, phải phá dỡ nhà ở để giải phóng mặt bằng, được hỗ trợ 2.000.000,0 đồng/hộ.
c) Hộ gia đình có người được hưởng trợ cấp xã hội khác của Nhà nước phải di chuyển hoặc phải phá dỡ nhà ở để thực hiện giải phóng mặt bằng được hỗ trợ 1.000.000 đồng/hộ.
d) Hộ gia đình có nhiều đối tượng hưởng chính sách xã hội, quy định tại khoản này thì được hưởng một trong các mức hỗ trợ cao nhất.
2. Người có đất ở bị thu hồi thì ngoài việc được bồi thường theo quy định, còn được hỗ trợ kinh phí làm thủ tục rời nhà cũ lên nhà mới một lần là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng/hộ.
3. Thưởng di chuyển đúng tiến độ
a) Người sử dụng đất nông nghiệp đủ điều kiện bồi thường, khi Nhà nước thu hồi đất, mà bàn giao mặt bằng (đất sạch) đúng tiến độ (theo thời hạn phải bàn giao) thì được thưởng 300 (ba trăm) đồng/m2.
b) Người có đất, tài sản trên đất bị thu hồi phải phá dỡ toàn bộ nhà ở, công trình, mà bàn giao mặt bằng (đất sạch) cho Trung tâm Phát triển quỹ đất thì được thưởng di chuyển như sau: 4.000.000 (bốn triệu) đồng/hộ, nếu di chuyển trước thời hạn 30 ngày; 3.000.000 (ba triệu) đồng/hộ, nếu di chuyển trước thời hạn từ 15 ngày đến dưới 30 ngày; 2.000.000 (hai triệu) đồng/hộ, nếu di chuyển trước thời hạn từ 05 ngày đến dưới 15 ngày; 1.000.000 (một triệu) đồng/hộ, nếu di chuyển đúng thời hạn.
c) Người sử dụng đất ở phải phá dỡ một phần nhà chính (không phải di chuyển chỗ ở) bàn giao mặt bằng (đất sạch) trước thời hạn cho Trung tâm Phát triển quỹ đất thì được thưởng bằng 1.000.000 (một triệu) đồng/hộ.
d) Tại thời điểm lập dự toán bồi thường, Trung tâm Phát triển quỹ đất phải xác định cụ thể thời hạn phải di chuyển thì mới tính thưởng di chuyển theo quy định tại các Điểm a, b, c Khoản này.
4. Người có đất, tài sản trên đất bị thu hồi trực tiếp sản suất nông nghiệp có nguồn sống chính từ sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng mà không đủ điều kiện để được bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 thì được hỗ trợ bằng 80% giá đất nông nghiệp của thửa đất bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ là diện tích đất thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh tại thời điểm bồi thường.
5. Bồi thường, hỗ trợ đối với trường hợp đặc biệt
a) Trường hợp diện tích đất còn lại của thửa đất sau khi bị thu hồi không đảm bảo diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh thì được bồi thường toàn bộ phần diện tích đất, tài sản gắn liền với đất đó (người bị thu hồi đất phải có đơn đề nghị thu hồi), chủ đầu tư có trách nhiệm chi trả. Phần diện tích đất này giao cho Ủy ban Nhân dân cấp xã hoặc giao cho Trung tâm Phát triển quỹ đất quản lý hoặc gộp với các thửa đất còn lại thành thửa đất mới để giao cho người có nhu cầu sử dụng.
b) Trường hợp diện tích đất còn lại của thửa đất sau khi bị thu hồi và các thửa đất, tài sản trên đất nằm ngoài phạm vi thu hồi đất nhưng bị ảnh hưởng khi thực hiện dự án thì được bồi thường công cải tạo đất và bằng 30% giá trị thu hồi của phần diện tích đất thực tế bị ảnh hưởng để tiếp tục sử dụng theo mục đích cũ. Trường hợp không thể cải tạo để tiếp tục sử dụng theo mục đích cũ mà phải chuyển sang để sử dụng vào mục đích khác (việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất) có giá trị thấp hơn thì được bồi thường bằng 50% giá trị bồi thường của diện tích đất thực tế bị ảnh hưởng theo loại đất trước khi chuyển mục đích. Giá trị thu hồi, bồi thường nêu trên được tính theo diện tích đất thực tế bị ảnh hưởng nhân với giá đất tại thời điểm thu hồi, bồi thường.
6. Người có đất, tài sản trên đất bị thu hồi mà không còn chỗ ở nào khác thì được hỗ trợ tiền thuê nhà, thời gian tính hỗ trợ từ ngày bàn giao đất đến thời điểm có thông báo của cơ quan có thẩm quyền về giao nhận đất tái định cư cộng với 05 tháng xây dựng nhà ở, mức hỗ trợ cho hộ có một nhân khẩu là 800.000 (tám trăm nghìn) đồng/hộ; hộ có từ 02 nhân khẩu đến 4 nhân khẩu là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/hộ/tháng; hộ có từ 5 nhân khẩu trở lên là 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng/hộ/tháng.
Trường hợp hộ gia đình nhận được thông báo nhận đất tại khu tái định cư mà không nhận đất tái định cư, thì thời gian kéo dài kể từ ngày nhận được thông báo đến khi nhận đất tái định cư không được tính hỗ trợ tiền thuê nhà.
7. Hỗ trợ nhà, công trình không đủ điều kiện bồi thường
a) Nhà, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013, nhưng tại thời điểm xây dựng mà chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn được cấp có thẩm quyền công bố hoặc xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn được cấp có thẩm quyền công bố, không vi phạm hành lang bảo vệ công trình thì được hỗ trợ tối đa bằng 80% mức bồi thường quy định tại Khoản 1 Điều 11 của Quy định này.
b) Nhà, công trình khác xây dựng trước ngày thông báo thu hồi đất thực hiện dự án trên đất không đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố và cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc thì không được bồi thường, không được hỗ trợ.
c) Nhà, công trình khác không được phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng, nhưng xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất và xây dựng trước thời điểm kế hoạch sử dụng đất hàng năm được phê duyệt và không bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lập biên bản xử lý vi phạm về xây dựng theo quy định của pháp luật thì được hỗ trợ bằng 100% mức bồi thường theo quy định tại Khoản 1, Điều 11 của Quy định này; nếu xây dựng sau ngày kế hoạch sử dụng đất hàng năm được phê duyệt, xây dựng không đúng với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì không được bồi thường, không được hỗ trợ. Trường hợp xây dựng sau thời điểm kế hoạch sử dụng đất hàng năm được phê duyệt, xây dựng không đúng với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nếu là công trình xây dựng thiết yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của hộ gia đình, cá nhân là đối tượng chính sách, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, hộ nghèo theo chuẩn nghèo thì được hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường theo quy định tại Khoản 1, Điều 11 của Quy định này
d) Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân đồng bào dân tộc thiểu số có tập quán làm nhà nương (lán nương) xa nơi ở để sử dụng làm nơi sinh hoạt ăn ở trên nương, kho chứa sản phẩm, chuồng trại chăn nuôi; được xây dựng từ trước ngày kế hoạch sử dụng đất hàng năm được phê duyệt, hiện tại đang sử dụng đất ổn định không tranh chấp và được Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận thì được bồi thường về giá trị tài sản theo quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh tại thời điểm bồi thường.
Trường hợp nhà nương (lán nương) được xây dựng từ trước ngày kế hoạch sử dụng đất hàng năm được phê duyệt, nhưng xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được công bố công khai và cắm mốc mà những vi phạm đó chưa có văn bản ngăn chặn của cấp có thẩm quyền thì không được bồi thường nhưng được hỗ trợ; mức hỗ trợ bằng 80% đơn giá bồi thường về tài sản theo quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh tại thời điểm bồi thường.
Trường hợp nhà nương (lán nương) được xây dựng sau ngày thông báo thu hồi đất thực hiện dự án thì không được bồi thường, không được hỗ trợ.
8. Trường hợp nhà ở, công trình của tổ chức, hộ gia đình cá nhân hợp pháp không bị thu hồi đất, không bị phá dỡ công trình mà công trình vẫn đang sử dụng, do thực hiện dự án làm ảnh hưởng đến cốt nhà, công trình (theo hướng chính của nhà, công trình) thì được xem xét bồi thường như sau:
a) Cốt đường, công trình của nhà nước cao hoặc thấp hơn cốt nền nhà từ 0,75m đến 1,5m thì được bồi thường phần ảnh hưởng đến nhà ở, công trình đó tiếp tục được sử dụng bình thường. Mức bồi thường như sau:
- Nếu nhà ở, công trình cách chỉ giới xây dựng công trình của nhà nước nhỏ hơn hoặc bằng 3,0m thì mức bồi thường bằng 50% đơn giá bồi thường.
- Nếu nhà ở, công trình cách chỉ giới xây dựng công trình của Nhà nước trên 3,0m đến 5,0m thì mức bồi thường bằng 30% đơn giá bồi thường về nhà, công trình.
b) Cốt đường, công trình của nhà nước cao hoặc thấp hơn cốt nền nhà từ trên 1,5m đến 2,5m so với hiện trạng trước khi xây dựng công trình nhà nước thì được bồi thường phần ảnh hưởng đến nhà ở, công trình đó tiếp tục được sử dụng bình thường. Mức bồi thường như sau:
- Trường hợp nhà ở, công trình bị ảnh hưởng cách chỉ giới xây dựng công trình của nhà nước từ 0,0m đến 3,0m thì mức bồi thường bằng 80% đơn giá bồi thường.
- Trường hợp nhà ở, công trình bị ảnh hưởng cách chỉ giới xây dựng công trình của nhà nước từ trên 3,0m đến 5,0m thì mức bồi thường bằng 60% đơn giá bồi thường.
c) Trường hợp cốt đường, công trình của nhà nước cao hoặc thấp hơn cốt nền nhà trên 2,5m và khoảng cách đến cốt xây dựng công trình của nhà nước từ 0,0m đến 5,0m thì được bồi thường bằng 100% đơn giá bồi thường.
d) Đối với nhà ở, công trình của đối tượng có đất, tài sản trên đất bị thu hồi có thể tháo dời và di chuyển đến chỗ ở mới thì chỉ bồi thường các chi phí tháo dời, vận chuyển, lắp đặt và vật liệu bị hao hụt, hư hỏng do tháo dời, vận chuyển, lắp đặt theo quy mô tương đương với công trình cũ thì hỗ trợ bằng 30% đơn giá bồi thường.
9. Hỗ trợ làm đường nước 2.000.000 (hai triệu) đồng/hộ; nơi không có công trình nước tập trung thì hỗ trợ đào giếng 3.000.000 (ba triệu) đồng/hộ; hỗ trợ lắp đặt điện thoại, truyền hình 1.000.000 (một triệu) đồng/hộ; hỗ trợ lắp điện chiếu sáng là 1.000.000 (một triệu) đồng/hộ.
10. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 của Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT, bị thu hồi đất dưới 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng mà việc thu hồi đất ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người bị thu hồi đất, thì được hỗ trợ một lần bằng 30% giá trị của thửa đất bị thu hồi. Việc xác định mức độ ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người thu hồi đất trong trường hợp này phải được Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người bị thu hồi đất xác nhận mới tính hỗ trợ.
11. Trường hợp hộ gia đình vừa có nhân khẩu là cán bộ, công chức, viên chức và vừa có nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 của Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình đó thì nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo mức quy định tại Điều 16 của Quy định này; được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo mức quy định tại Điều 17 của Quy định này.
12. Hộ gia đình bị thu hồi đất có mức sống thuộc diện hộ nghèo (có sổ công nhận hộ nghèo) theo quy định thì được hỗ trợ 3.000.000 đồng/hộ.