Điều 10. Điều kiện xác định giá đất
1. Giá đất ở, giá đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (trừ đất khai thác khoáng sản) theo Qui định này áp dụng đối với đất đã có mặt bằng.
2. Trường hợp đất chưa có mặt bằng thì xác định giá đất như sau:
a) Trường hợp Nhà nước giao đất mới cho hộ gia đình, cá nhân không qua đấu giá quyền sử dụng đất, thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện căn cứ: Các chính sách bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, thiết kế san tạo được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đơn giá xây dựng cơ bản do Uỷ ban nhân dân tỉnh qui định tại thời điểm thu tiền sử dụng đất để xác định và trừ chi phí san, đắp mặt bằng của người được giao đất mới theo mức thực tế, phù hợp với khối lượng san đắp được duyệt và đơn giá xây dựng cơ bản do Uỷ ban nhân dân tỉnh qui định. Trường hợp mức chi phí thực tế về san, đắp lớn thì chỉ được trừ tối đa là 40% số tiền sử dụng đất phải nộp tính theo giá đất tại Qui định này.
b) Trường hợp Nhà nước giao đất mới cho hộ gia đình, cá nhân theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất tại các thửa đất chưa có mặt bằng, thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện hoặc tổ chức được giao nhiệm vụ tạo lập quỹ đất đấu giá, căn cứ vào dự toán thiết kế san đắp mặt bằng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, căn cứ vào đơn giá xây dựng cơ bản do Uỷ ban nhân dân tỉnh qui định, căn cứ các chính sách bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại thời điểm tạo lập quỹ đất để tổ chức giải phóng mặt bằng, san, đắp mặt bằng và thực hiện khảo sát giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường ở khu vực liền kề (đối với đất đã có mặt bằng) tại thời điểm tổ chức đấu giá để xây dựng giá sàn đấu giá, nhưng giá sàn không được thấp hơn giá đất tại Qui định này.
Tổng chi phí giải phóng mặt bằng, san, đắp mặt bằng được trừ vào nguồn thu tiền giao đất qua đấu giá quyền sử dụng đất và thuê đất theo mức chi phí thực tế. Trường hợp các chi phí về giải phóng mặt bằng, san, đắp mặt bằng thực tế lớn thì chỉ được trừ tối đa là 40% số tiền sử dụng đất thu được qua đấu giá.
Uỷ ban nhân dân cấp huyện hoặc tổ chức được giao nhiệm vụ tạo lập quỹ đất đấu giá, tổ chức thực hiện đầu tư và phải chịu trách nhiệm về Quyết định đầu tư của mình theo qui định của Pháp luật.
c) Trường hợp Nhà nước giao đất mới cho hộ gia đình, cá nhân theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất tại những tuyến đường mới được xây dựng hoặc các tuyến đường mới được đầu tư nâng cấp (giá đất tại các tuyến đường đó chưa được qui định tại Quyết định này) thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện điều tra, xây dựng giá đất, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định giá đất trước khi tổ chức đấu giá (qua Sở Tài nguyên Môi trường kiểm tra, Sở Tài chính thẩm định). Đối với các quỹ đất đấu giá chưa có mặt bằng thì thực hiện theo quy định tại điểm b khoản này.
d) Đối với những thửa đất ở hoặc đất nông nghiệp chưa có mặt bằng (đất đồi, đất hủm sâu) của hộ gia đình, cá nhân nay xét công nhận quyền sử dụng đất ở hoặc chuyển mục đích đất sang làm đất ở để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xử lý như sau:
- Đối với những thửa đất ở, trước đây là đất nông nghiệp (đất đồi, đất hủm sâu) kể cả trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận sử dụng vào mục đích nông nghiệp mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã tự ý chuyển mục đích trái pháp luật nay phù hợp với quy hoạch, hộ gia đình, cá nhân được xét công nhận quyền sử dụng đất ở hoặc chuyển mục đích sử dụng đất thì không được trừ chi phí san tạo mặt bằng.
- Đối với những thửa đất nông nghiệp chưa có mặt bằng (đất đồi, đất hủm sâu) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích đất sang làm đất ở thì xử lý như sau:
+ Trường hợp thửa đất thuộc đất đô thị (thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ và các thị trấn) có thiết kế san tạo mặt bằng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được trừ chi phí san đắp mặt bằng theo thiết kế, nhưng chỉ được trừ tối đa là 40% tiền sử dụng đất phải nộp tính theo giá đất tại Quy định này.
+ Trường hợp thửa đất thuộc xã của các huyện, nếu có xác nhận về khối lượng đào, đắp của Uỷ ban nhân dân xã, thì được trừ chi phí san đắp mặt bằng theo xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã (Uỷ ban nhân dân xã phải chịu trách nhiệm về xác nhận này), nhưng chỉ được trừ tối đa là 40% tiền sử dụng đất phải nộp tính theo giá đất tại Quy định này.
3. Trường hợp Nhà nước giao đất mới cho hộ gia đình, cá nhân theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất tại các thửa đất đã có mặt bằng, thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện khảo sát giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường ở khu vực liền kề (đối với đất đã có mặt bằng) tại thời điểm tổ chức đấu giá để xây dựng giá sàn đấu giá, nhưng giá sàn không được thấp hơn giá đất tại Qui định này.
4. Trường hợp Nhà nước giao đất cho tổ chức theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, hoặc đấu thầu Dự án có sử dụng đất để tạo vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định giá đất cho từng trường hợp cụ thể.