vanban.org

Điều 5. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng — Quyết định 33/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/03/2010 Thay thế: 07/2010/QĐ-UBND · 16/03/2010
Hà Tĩnh Ban hành 18/07/2006 Hiệu lực 28/07/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 07/2010/QĐ-UBND Ban hành quy định chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh · 07/2010/QĐ-UBND
Quyết định số 33/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành một số quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh · 33/2006/QĐ-UBND
28/07/2006Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 33/2006/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng

1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được xét hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi nghề theo Điều 17 và Điều 18 của Quy định này.

2. Hộ gia đình cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối được Nhà nước giao, hoặc nhận chuyển nhượng từ người khác, hoặc nhận thừa kế theo đúng quy định của Pháp luật về đất đai thì được bồi thường thiệt hại về đất.

3. Đất vườn, ao liền kề đất ở, đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng loại còn được hỗ trợ thêm:

- Đối với phần diện tích đất vườn, ao nằm cùng thửa với đất có nhà ở (Trong khuôn viên) được hỗ trợ thêm 50% giá đất ở liền kề nhưng tổng mức bồi thường và hỗ trợ tối đa không vượt quá giá trị bồi thường đất ở có vị trí tương đương;

- Đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư (là thửa đất nằm trong khu dân cư) được hỗ trợ thêm như sau:

+ Đối với khu vực nông thôn, hỗ trợ 25% giá đất ở liền kề (giá đất ở liền kề được xác định theo theo phương pháp bình quân gia quyền của các thửa đất bao quanh);

+ Đối với các đô thị, hỗ trợ 20% giá đất ở liền kề (giá đất ở liền kề được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền của các thửa đất bao quanh);

4. Đối với đất nông nghiệp trong đô thị không nằm xen kẽ trong khu dân cư được hỗ trợ thêm 20% giá đất ở thấp nhất được quy định cho địa phương đó.

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nhận khoán vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các Nông, Lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và được hỗ trợ theo quy định như sau:

a) Hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, hoặc thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp:

- Mức hỗ trợ bằng 50% giá trị bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương đối với những hộ không được nhận giao đất khoán;

- Trường hợp được bố trí nhận khoán nơi khác thì không được hỗ trợ, nếu diện tích nhận khoán mới nhỏ hơn diện tích thu hồi thì được hỗ trợ phần diện tích chênh lệch.

b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không thuộc đối tượng quy định tại Điểm a, Khoản này thì không được bồi thường và hỗ trợ về đất, chỉ được bồi thường chi phí đã đầu tư vào đất còn lại;

c) Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi, không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường chi phí đã đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.

6. Trường hợp đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì không được bồi thường về đất, chỉ được hỗ trợ, mức hỗ trợ tối đa bằng mức bồi thường đất nông nghiệp. Tiền hỗ trợ chỉ được sử dụng để đầu tư xây dựng hạ tầng, sử dụng mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Quy định này. Trường hợp thực sự có đầu tư vào đất nhưng không xác định được chi phí đầu tư vào đất còn lại thì mức bồi thường bằng 30% giá trị bồi thường đất cùng hạng.