vanban.org

Điều 6. Hội nghị của thôn, tổ dân phố — Quyết định 31/2013/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/07/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 21/07/2023 Thay thế: 28/2023/QĐ-UBND · 11/07/2023
Gia Lai Ban hành 02/10/2013 Hiệu lực 12/10/2013 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 6 phiên bản · 13 năm
Quyết định 39/2026/QĐ-UBND Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Gia Lai · 39/2026/QĐ-UBND
Quyết định số 28/2023/QĐ-UBND Quy định chi tiết một số nội dung về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Gia Lai · 28/2023/QĐ-UBND
Quyết định số 31/2013/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố thuộc tỉnh Gia Lai · 31/2013/QĐ-UBND
21/07/202328/2023/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 12/10/2013Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 31/2013/QĐ-UBND › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Hội nghị của thôn, tổ dân phố

1. Hội nghị của thôn, tổ dân phố được tổ chức sáu tháng một lần (vào giữa năm và cuối năm), khi cần có thể tổ chức hội nghị bất thường. Thành phần hội nghị là toàn thể cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố.

Trường hợp thôn, tổ dân phố có trên 200 hộ gia đình, có địa bàn dân cư sống không tập trung thì có thể tổ chức các cuộc họp theo từng cụm dân cư. Mỗi cụm dân cư có từ 70 đến 150 hộ gia đình. Cuộc họp của mỗi cụm dân cư được tiến hành khi có trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong cụm dân cư tham dự. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổng hợp kết quả cuộc họp ở từng cụm dân cư vào kết quả chung của toàn thôn, tổ dân phố.

2. Hội nghị là nơi để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp hoặc biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định những nội dung hoạt động của Thôn, Tổ dân phố theo quy định của pháp luật, hội nghị được tiến hành thông qua một trong các hình thức:

a) Tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;

b) Tổ chức phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.

Sau khi thống nhất lựa chọn hình thức hội nghị, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phối hợp với Trưởng ban công tác mặt trận thôn, tổ dân phố để tổ chức hội nghị; hội nghị do Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố triệu tập và chủ trì (trừ hội nghị để bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Phó trưởng thôn, Tổ phó tổ dân phố).

3. Hội nghị tổ chức theo hình thức quy định tại điểm a, khoản 2 điều này được tiến hành khi có trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tham dự và thực hiện theo trình tự như sau:

a) Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tuyên bố lý do, nêu mục đích, yêu cầu, nội dung hội nghị; giới thiệu người để hội nghị biểu quyết cử làm thư ký;

b) Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố trình bày những nội dung cần đưa ra để hội nghị xem xét;

c) Hội nghị thảo luận;

d) Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổng hợp chung các ý kiến tham gia tại hội nghị và đề xuất phương án biểu quyết. Việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín do hội nghị quyết định.

Kết quả hội nghị theo hình thức này có giá trị thi hành nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình tham gia hội nghị tán thành. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lập biên bản và thông báo kết quả họp đến các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố.

4. Hội nghị tổ chức theo hình thức quy định tại điểm b, khoản 2 điều này được tiến hành theo trình tự như sau:

a) Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phối hợp với Trưởng ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố xây dựng kế hoạch tổ chức phát phiếu lấy ý kiến; thành lập Tổ phát phiếu lấy ý kiến có từ 3 đến 5 người;

b) Tổ phát phiếu lấy ý kiến trực tiếp đến từng hộ gia đình để phát phiếu cho cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; tiến hành lấy phiếu của các cử tri đã góp ý và tổng hợp kết quả lấy ý kiến.

Kết quả hội nghị theo hình thức này có giá trị thi hành nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình tham gia hội nghị tán thành. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lập biên bản và thông báo kết quả lấy ý kiến đến các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố.

5. Trường hợp kết quả hội nghị quy định tại khoản 3, khoản 4 điều này không đạt trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành thì chậm nhất là 15 ngày sau (kể từ ngày tổ chức hội nghị không thành), Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phối hợp với Trưởng ban công tác mặt trận thôn, tổ dân phố để tổ chức lại hội nghị theo trình tự quy định tại khoản 3, khoản 4 điều này.

6. Trường hợp không tổ chức lại được hội nghị hoặc sau khi đã tiến hành tổ chức lại hội nghị thôn, tổ dân phố mà kết quả vẫn chưa đạt trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành thì Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phối hợp với Trưởng ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố tổ chức phát phiếu lấy ý kiến của những cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình không tham dự hội nghị để tổng hợp chung vào kết quả của hội nghị liền trước đó;

Trên cơ sở tổng hợp kết quả hội nghị và kết quả lấy ý kiến những cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình không dự họp, nếu đạt trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành thì có giá trị thi hành. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lập biên bản xác nhận kết quả kết hợp giữa cuộc họp với phát phiếu lấy ý kiến những cử tri không dự họp và thông báo đến các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố.