Điều 4. Về huy động vốn trong tỉnh:
Coi “vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước là quan trọng”. Các giải pháp huy động vốn để tập trung thể hiện trên các mặt:
1. Đa dạng hóa các hình thức và và công cụ huy động như mở rộng liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu xây dựng công trình, góp quỹ bảo hiểm, mạnh dạn thực hiện hình thức BOT và BT.
2. Quán triệt chủ trương, làm thông suốt tư tưởng, kiên quyết triển khai mạnh mẽ và có hiệu quả cổ phần hóa một số DNNN trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và thương mại. Trước mắt là Công ty vận tải hành khách, Khách sạn Thái Bình Dương và Khách sạn Hữu Nghị (Công ty Hữu nghị).
3. Tiếp tục thực hiện bán khoán vườn cây kinh doanh cho các hộ nông trường viên, cho thuê đất trồng, đất rừng; bán hoặc cho thuê cơ sở sản xuất công nghiệp làm ăn kém hiệu quả cho các tổ chức kinh tế tư nhân, Công ty TNHH... tăng thêm vốn để đầu tư các dự án mới và tăng vốn lưu động cho các doanh nghiệp. Tiếp tục rà soát các nông, lâm trường có vườn cây công nghiệp, ăn quả dài ngày đã đến kỳ thanh lý để có giải pháp phù hợp đảm bảo tái tạo vườn cây có hiệu quả kinh tế và môi trường.
4. Rà soát quy hoạch đô thị trước hết là thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, các thị trấn và ven các trục đường chính... quy vùng dân cư, hạ giá đất để giải quyết đất ở cho dân và cho các doanh nghiệp tự bỏ vốn đầu tư xây dựng theo hình thức BOT, với thủ tục đơn giản nhất... để nhanh chóng tăng thêm cơ sở hạ tầng. Giành một số lô đất để giao và cho thuê lâu dài tạo nguồn ngân sách đầu tư cho các công trình bức xúc.
5. Mở rộng các hình thức huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn và đô thị (điện, đường, trường, trạm, kênh mương...) thông qua việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích, huy động xây dựng trường học theo quy định tại quyết định 3841/QĐUB ngày 22/9/1997 của UBND tỉnh; phân công cho các tổ chức kinh tế - xã hội đóng trên trên địa bàn nghĩa vụ đóng góp xây dựng cơ sở công ích. Trình HĐND tỉnh quyết nghị thêm thu phí, lệ phí, phụ thu... hợp lý; gắn thu với việc đầu tư các công trình phúc lợi công cộng trên địa bàn để dân được hưởng lợi trực tiếp từ các khoản đóng góp.
6. Nguồn tiền thu cấp quyền sử dụng đất phải nộp 100% vào Kho bạc Nhà nước và được phân chia theo tỷ lệ sau:
Trích 10% vào ngân sách tỉnh để làm công tác quy hoạch đất đai, 90% để lại đầu đầu tư cơ sở hạ tầng tại địa phương huyện, thành phố, thị xã và phường, xã, trong đó huyện (thành, thị) 60%, xã (phường, thị trấn 30%).
Đối với các lô đất dành riêng để giao hoặc cho thuê tạo nguồn vốn đầu tư xây dựng các công trình bức xúc của tỉnh thì chỉ giải quyết cho ngân sách cho ngân sách phường, xã 10%, còn 90% là của ngân sách tỉnh (trong đó có 10% quỹ địa chính). Riêng các khu đất dành để tạo công xây dựng Công viên trung tâm ở thành phố Vinh thì được phân chia như sau: 10% ngân sách phường, xã, 10% quỹ địa chính tỉnh, 80% ngân sách thành phố để chi trả đầu tư công viên.
Các tổ chức kinh tế có một phần đất dư thừa được phép chuyển nhượng để giải quyết khó khăn trong sản xuất kinh doanh thì giải quyết như sau: Tỉnh 10% dành cho quỹ địa chính, 10% cho phường, xã, 80% còn lại nộp ngân sách tỉnh để xem xét giải quyết hợp lý giữa đơn vị kinh tế và ngân sách tỉnh theo từng trường hợp cụ thể do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định.
7. UBND các huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò phải ưu tiên giành tiền thu cấp quyền sử dụng đất và thuế sử dụng đất nông nghiệp trồng lúa được tỉnh để lại để trả nợ các công trình trong kế hoạch 1997 của huyện đã hoàn thành và cấp có thẩm quyền đã phê duyệt quyết toán.
8. Tiếp tục thực hiện tiết kiệm trong chi thường xuyên (trừ lương và các khoản có tính chất lương, chi thường xuyên từ nguồn vốn vay và viện trợ) và trong các công trình đầu tư xây dựng chỉ định thầu ở mức 5% (chỉ tính phần xây lắp và kiến thiết cơ bản khác).