Điều 16. Soạn thảo, ban hành văn bản
1. Việc soạn thảo, ban hành văn bản của Ngân hàng Nhà nước phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về công tác văn thư.
2. Khi trình Thống đốc ký văn bản quy phạm pháp luật của Ngân hàng Nhà nước, văn bản trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người ký trình phải là thủ trưởng đơn vị chủ trì soạn thảo; trường hợp có yêu cầu gấp về thời gian và thủ trưởng đơn vị vắng mặt (đi công tác, nghỉ phép, nghỉ ốm) thì thủ trưởng đơn vị uỷ quyền cho một cấp phó ký trình.
3. Thẩm quyền ký các văn bản của Ngân hàng Nhà nước
a) Thống đốc ký:
- Các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Ngân hàng Nhà nước;
- Các văn bản quan trọng gửi Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan khác của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương .
- Các văn bản liên quan đến tổ chức bộ máy, nhân sự của ngành; văn bản về công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước.
b) Trong phạm vi lĩnh vực được Thống đốc phân công, Phó Thống đốc ký thay Thống đốc:
- Văn bản để xử lý những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước vượt quá thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước.
- Các văn bản khác gửi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan khác của Đảng và Nhà nước.
c) Chánh Văn phòng được thừa lệnh Thống đốc ký các văn bản:
- Giấy mời hội nghị, cuộc họp của Ngân hàng Nhà nước, trừ các giấy mời do Thống đốc, Phó Thống đốc ký;
- Văn bản thông báo ý kiến kết luận, chỉ đạo của Thống đốc hoặc đôn đốc các đơn vị trong ngành triển khai công việc theo chương trình công tác của Ngân hàng Nhà nước và các công việc khác theo chỉ đạo của Thống đốc;
- Sao, trích các văn bản đã ban hành;
- Một số văn bản hành chính khác theo thẩm quyền được quy định tại Quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng .
d) Thủ trưởng (hoặc cấp phó được phân công) các đơn vị khác tại trụ sở chính Ngân hàng Nhà nước được thừa lệnh Thống đốc ký các văn bản hành chính thuộc thẩm quyền của đơn vị. Văn bản ký thừa lệnh Thống đốc phải được gửi Thống đốc và các Phó Thống đốc để báo cáo.
đ) Thống đốc có thể uỷ quyền cho Thủ trưởng đơn vị tại trụ sở chính Ngân hàng Nhà nước ký thừa uỷ quyền một số văn bản thuộc thẩm quyền của Thống đốc. Việc giao ký thừa uỷ quyền được quy định cụ thể tại quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị hoặc thể hiện bằng văn bản trong từng trường hợp cụ thể. Người được uỷ quyền không được uỷ quyền lại cho người khác ký.