Điều 11. Quy định chung về dự án
1. Đối với dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư phải báo cáo Bộ quản lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình;
Đối với dự án nhóm B, C không có trong quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch xem xét chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình;
Vị trí, quy mô xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt; nếu chưa có trong quy hoạch xây dựng thì phải được UBND tỉnh chấp thuận (đối với tất cả dự án nhóm A hoặc dự án nhóm B, C trên khu vực thuộc thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 của UBND tỉnh theo quy định tại Điều 8 của Quy định này) hoặc UBND huyện, thành phố chấp thuận (đối với các dự án nhóm B, C trên khu vực thuộc thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 của UBND huyện, thành phố theo quy định tại Điều 8 của Quy định này).
2. Các dự án đầu tư trước khi lập và trình thẩm định, phê duyệt phải được cấp quản lý ngân sách (UBND tỉnh, UBND huyện, thành phố, UBND cấp xã, Hội đồng quản trị, đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp) thống nhất chủ trương đầu tư (bằng văn bản thống nhất chủ trương, kế hoạch bố trí vốn chuẩn bị đầu tư,...).
3. Đối với các dự án ở cấp xã dùng vốn ngân sách Nhà nước đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, UBND xã phải trình HĐND xã thông qua và UBND huyện, thành phố chấp thuận về quy hoạch và mục tiêu đầu tư.
4. Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài chính thống nhất danh mục các dự án được đầu tư bằng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất xây dựng cơ bản do ngành chủ quản đề xuất đã được UBND tỉnh giao tổng kế hoạch vốn. Riêng vốn sự nghiệp trùng tu di tích cố đô Huế, Sở Kế hoạch và Đầu tư thống nhất với Sở Tài chính trình UBND tỉnh phê duyệt.
5. Các dự án viện trợ phi chính phủ (NGO) trước khi lập dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật phải trình cấp có thẩm quyền quyết định tiếp nhận viện trợ theo đúng quy định về quản lý vốn viện trợ phi chính phủ;
Cấp có thẩm quyền quyết định tiếp nhận viện trợ phi chính phủ thực hiện theo Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài ban hành kèm theo Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg ngày 26/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ; Quy định về quản lý và sử dụng các chương trình, dự án tài trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành kèm theo Quyết định số 180/2002/QĐ-UBND ngày 18/01/2002 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.
6. Trường hợp cấp xã không có đơn vị đủ tư cách pháp nhân làm chủ đầu tư, UBND cấp xã được thành lập Ban Xây dựng công trình để làm chủ đầu tư dự án do UBND cấp xã quyết định đầu tư (sử dụng con dấu của UBND cấp xã và mở tài Khoản riêng).
7. Những công trình sau đây không phải lập dự án đầu tư mà chỉ lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình để trình người quyết định đầu tư phê duyệt:
a) Công trình xây dựng cho mục đích tôn giáo;
b) Các công trình xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng; trừ trường hợp người quyết định đầu tư thấy cần thiết và yêu cầu phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình.
8. Khi xây dựng nhà ở riêng lẻ thì chủ đầu tư xây dựng công trình không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật mà chỉ lập hồ sơ xin giấy phép xây dựng. Riêng nhà ở riêng lẻ tại vùng sâu, vùng xa không thuộc đô thị, không thuộc điểm dân cư tập trung; nhà ở riêng lẻ tại các điểm dân cư nông thôn chưa có quy hoạch xây dựng được duyệt không phải xin phép xây dựng.