Điều 8. Quản lý tổng mức đầu tư
1. Khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình hoặc lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với trường hợp không phải lập dự án, chủ đầu tư phải xác định tổng mức đầu tư để tính toán hiệu quả đầu tư xây dựng.
2. Thẩm định tổng mức đầu tư là một nội dung của việc thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình; nội dung thẩm định tổng mức đầu tư thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 6 Nghị định số 112/2009/NĐ-CP.
3. Thẩm quyền thẩm định tổng mức đầu tư được quy định như sau:
- Đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch Đầu tư chịu trách nhiệm thẩm định tổng mức đầu tư;
- Đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch chịu trách nhiệm thẩm định tổng mức đầu tư;
- Đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp xã, bộ phận có chức năng quản lý kế hoạch ngân sách chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định tổng mức đầu tư (thuê các tổ chức, cá nhân tư vấn để thẩm tra hoặc đề nghị Phòng Tài chính - Kế hoạch thẩm định tổng mức đầu tư);
Các tổ chức, cá nhân tư vấn quản lý chi phí có đủ điều kiện năng lực, kinh nghiệm chuyên môn thực hiện việc thẩm định, thẩm tra tổng mức đầu tư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp lý, chính xác của kết quả thẩm định, thẩm tra.
4. Tổng mức đầu tư được ghi trong quyết định đầu tư do người quyết định đầu tư phê duyệt là chi phí tối đa mà chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình và là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình.
5. Việc điều chỉnh tổng mức đầu tư thực hiện như quy định tại Điều 13 của Thông tư số 04/2010/TT-BXD và Nghị định số 112/2009/NĐ-CP.