Điều 13. Báo cáo, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ
1. Định kỳ 06 tháng một lần, hoặc theo yêu cầu đột xuất của cơ quan quản lý, cơ quan chủ trì nhiệm vụ báo cáo bằng văn bản tiến độ và kết quả thực hiện các nội dung nhiệm vụ, tình hình sử dụng kinh phí, kế hoạch hoặc phương án triển khai giai đoạn tiếp theo, kiến nghị (nếu có), gửi về Sở Khoa học và Công nghệ (đối với nhiệm vụ cấp thành phố), các Sở, ban, ngành, quận, huyện, cơ quan, đơn vị sự nghiệp (đối với nhiệm vụ cấp cơ sở). Trường hợp tổ chức chủ trì không thực hiện việc báo cáo tiến độ đúng quy định từ 02 lần trở lên thì sẽ bị dừng cấp kinh phí thực hiện nhiệm vụ và xử lý theo quy định.
2. Sở Khoa học và Công nghệ (đối với nhiệm vụ cấp thành phố), các Sở, ban, ngành, quận, huyện, cơ quan, đơn vị sự nghiệp (đối với nhiệm vụ cấp cơ sở) tổ chức kiểm tra định kỳ 6 tháng một lần hoặc đột xuất (nếu cần thiết) để đánh giá việc thực hiện về nội dung, tiến độ, tình hình sử dụng kinh phí, giải quyết các vấn đề phát sinh (nếu có) theo quy định hiện hành. Kết quả kiểm tra việc thực hiện (bằng biên bản kiểm tra) là căn cứ xem xét điều chỉnh, bổ sung nội dung, kinh phí, thời gian thực hiện cho phù hợp, hoặc chấm dứt thực hiện nhiệm vụ.
3. Việc điều chỉnh nội dung, kinh phí, thời gian thực hiện, hoặc chấm dứt thực hiện nhiệm vụ phải được đề nghị bằng văn bản của cơ quan chủ trì. Trên cơ sở kết quả kiểm tra, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, thủ trưởng các Sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị sự nghiệp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, huyện xem xét, có ý kiến bằng văn bản gửi cơ quan chủ trì. Trường hợp cần thiết, xin ý kiến Hội đồng tư vấn phê duyệt thuyết minh nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Những điều chỉnh nội dung, kinh phí, thời gian thực hiện phải được thể hiện bằng phụ lục hợp đồng đã ký.
Việc điều chỉnh thời gian thực hiện nhiệm vụ chỉ được thực hiện 01 lần không quá 12 tháng đối với các nhiệm vụ có thời gian thực hiện từ 24 tháng trở lên và không quá 06 tháng đối với nhiệm vụ có thời gian thực hiện dưới 24 tháng.