Điều 6. Điều chinh độ mật, Ggải mật, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước
1. Người đứng đầu đơn vị tạo ra bí mật nhà nước (Chủ tịch UBND tỉnh; Thủ trưởng và Trưởng phòng các cơ quan chuyên môn, cơ quan trực thuộc UBND tỉnh; Chủ tịch và Trưởng phòng UBND cấp huyện) có thẩm quyền quyết định bằng văn bản điều chỉnh tăng hoặc giảm độ mật theo danh mục bí mật nhà nước. Sau khi điều chỉnh xong phải đóng dấu theo mẫu số 06, Thông tư số 24/2020/TT-BCA và thông báo cho các đơn vị, cá nhân có liên quan biết theo quy định.
2. Bí mật nhà nước được giải mật toàn bộ hoặc một phần
a) Trường hợp hết thòi hạn bảo vệ hoặc gia hạn bảo vệ thì đương nhiên giải mật, không thực hiện quy trình giải mật, không phải đóng dấu giải mật. Trường hợp không còn thuộc danh mục bí mật nhà nước thì phải đóng dấu giải mật và thông báo bằng vãn bản đển các đơn vị, cá nhân có liên quan.
b) Trường hợp giải mật đế đáp yêu cầu thực tiễn bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; phát triển kinh tế - xã hội; hội nhập, hợp tác quốc tế thì phải tiến hành giải mật theo quy định tại khoản 4, Điều 22, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.
3. Việc tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được thực hiện như sau:
a) Thẩm quyền cho phép tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước gồm: Chủ tịch UBND tỉnh; Thủ trưởng và Trưởng phòng các cơ quan chuyên môn, cơ quan trực thuộc UBND tỉnh; Chủ tịch và Trưởng phòng UBND cấp huyện.
b) Trường hợp nếu không tiêu hủy ngay cỏ thể gây hại cho lợi ích quốc gia dân tộc thì người đang quản lý, sử dụng tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được quyên quyết định tiêu hủy và phải có báo cáo ngay cho người đứng đầu đơn vị biết.
c) Quy trình tiêu hủy khi không cần thiết phải lưu giữ và không gây ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc được thực hiện theo quy định tại khoản 4, Điều 23, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.