Điều 15. Kiềm tra, thanh tra, chế độ thông tin, báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước
1. Các cơ quan, đơn vị tự kiểm tra công tác bảo vệ bí mật nhà nước định kỳ một năm một lần; Giao Công an tình định kỳ kiểm tra công tác bảo vệ bí mật nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, UBND các địa phương một năm một lân, kiêm tra đột xuất khi có yêu câu.
2. Công an tỉnh tiến hành thanh tra công tác bảo vệ bí mật nhà nước định kỳ, đột xuất theo quy định của pháp luật.
3. Định kỳ một năm, các cơ quan, đơn vị báo cáo tình hình, kết quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý gửi UBND tỉnh (qua Công an tỉnh).
a) Nội dung báo cáo thực hiện theo khoản 2, Điều 8, Luật Bảo vệ Bí mật nhà nước;
b) Mốc thời gian báo cáo một năm gửi trước ngày 15 tháng 10.
4. Năm năm một lần, UBND tỉnh tổng kết tình hình, kết quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước; hình thức tổng kết do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định; báo cáo tổng kết gửi Chính phủ, Bộ Công an theo quy định.
5. Trường hợp để xảy ra vi phạm hoặc lộ lọt, mất thông tin, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước, các cơ quan, đơn vị kịp thời báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo và báo cáo Công an tỉnh để phối hợp xử lý.