Điều 7. Bồi thường đối với đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn
1. Khi Nhà nước thu hồi đất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn thì thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ theo quy định.
2. Trường hợp Nhà nước không thu hồi đất đối với đất nằm trong phạm vi hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ thì được bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất theo quy định tại Điều 94 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp làm thay đổi mục đích sử dụng đất:
- Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất ở sang đất phi nông nghiệp không phải là đất ở hoặc từ đất ở sang đất nông nghiệp thì mức bồi thường thiệt hại được xác định như sau:
Tbt= (G1 - G2) x S
Trong đó:
Tbt: Tiền bồi thường thiệt hại;
G1: Giá đất ở tính bình quân mỗi m2;
G2: Giá đất phi nông nghiệp không phải đất ở hoặc giá đất nông nghiệp tính bình quân cho mỗi m2;
S: Diện tích đất bị thay đổi mục đích sử dụng đất;
- Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất nông nghiệp thì mức bồi thường thiệt hại được xác định như sau:
Trong đó:
Tbt= (G3 - G4) x S
Tbt: Tiền bồi thường thiệt hại;
G3: Giá đất phi nông nghiệp không phải đất ở tính bình quân mỗi m2;
G4: Giá đất nông nghiệp tính bình quân cho mỗi m2;
S: Diện tích đất bị thay đổi mục đích sử dụng đất.
b) Trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất (nhà ở, công trình, đủ điều kiện tồn tại trong hành lang bảo vệ an toàn của công trình), nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng thì mức bồi thường thiệt hại được tính bằng tiền theo tỷ lệ cho từng loại đất như sau:
- Làm hạn chế khả năng sử dụng đối với đất ở thì được tính bồi thường bằng 50% giá bồi thường về đất ở.
- Làm hạn chế khả năng sử dụng đối với đất phi nông nghiệp, đất thương mại dịch vụ (không phải là đất ở), đất trồng cây lâu năm thì được tính bồi thường bằng 30% giá bồi thường về đất phi nông nghiệp, đất thương mại dịch vụ (không phải là đất ở), đất trồng cây lâu năm.
c) Khi hành lang bảo vệ an toàn công trình chiếm dụng khoảng không trên 70% diện tích thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng thì phần diện tích đất còn lại trên cùng thửa đất đó cũng được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này;
- Nội dung đã quy định: “d) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất trong hành lang an toàn thì được bố trí tái định cư theo Khoản 2 Điều 22 của Quy định này; được bồi thường chi phí di chuyển theo Điều 13 của Quy định này và được hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất theo Điều 16 của Quy định này.”
- Nội dung điều chỉnh, bổ sung: “d) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất trong hành lang an toàn thì được bố trí tái định cư theo Khoản 2 Điều 22 của Quy định này; được bồi thường chi phí di chuyển theo Điều 13 của Quy định này và được hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất thời gian là 12 tháng, mức hỗ trợ theo Điểm d Khoản 3 Điều 16 của quy định này.