Điều 9. Báo cáo kết quả tự kiểm tra văn bản trái pháp luật
1. Khi tự kiểm tra phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, người được phân công tự kiểm tra văn bản phải lập hồ sơ, báo cáo người có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 5, Điều 8 Quy chế này.
2. Nội dung của phiếu tự kiểm tra văn bản:
a) Tên người tự kiểm tra văn bản.
b) Cơ quan, đơn vị công tác.
c) Tên văn bản được tự kiểm tra.
d) Các văn bản làm cơ sở pháp lý để tự kiểm tra.
đ) Nội dung trái pháp luật của văn bản được tự kiểm tra.
e) Ý kiến của người tự kiểm tra về nội dung trái pháp luật của văn bản.
g) Đề xuất hướng xử lý nội dung trái pháp luật của văn bản.
h) Các biện pháp khắc phục hậu quả do việc ban hành, thực hiện văn bản trái pháp luật gây ra (nếu có).
i) Đề xuất hướng xử lý trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật.
3. Trường hợp chưa thống nhất ý kiến giữa người được phân công tự kiểm tra và người được phân công phối hợp tự kiểm tra thì người được phân công tự kiểm tra phải báo cáo với lãnh đạo trực tiếp về những ý kiến chưa thống nhất trong hồ sơ tự kiểm tra văn bản.
4. Người có thẩm quyền tự kiểm tra văn bản xem xét phê duyệt kết quả tự kiểm tra của người được phân công tự kiểm tra. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền tự kiểm tra văn bản có thể tổ chức họp thảo luận trong đơn vị trước khi phê duyệt kết quả tự kiểm tra.
5. Sau khi kết quả tự kiểm tra đã được phê duyệt, người được phân công tự kiểm tra văn bản phải ghi chép đầy đủ các ý kiến về nội dung trái pháp luật theo kết quả tự kiểm tra đã phê duyệt và vào sổ theo dõi tự kiểm tra văn bản theo quy định.