Điều 6. Căn cứ rà soát văn bản
1. Rà soát theo văn bản là căn cứ pháp lý
Văn bản là căn cứ pháp lý để rà soát là văn bản được ban hành sau, có quy định liên quan đến quy định của văn bản được rà soát và thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn văn bản được rà soát.
b) Văn bản của chính cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản được rà soát.
c) Văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cùng cấp với cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản được rà soát.
d) Văn bản là căn cứ pháp lý để rà soát, bao gồm các văn bản theo quy định tại Điều 3, Thông tư số 09/2013/TT-BTP ngày 15/6/2013 của Bộ Tư pháp (Thông tư số 09/2013/TT-BTP) quy định chi tiết thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL.
2. Rà soát căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Căn cứ vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kết quả điều tra, khảo sát và thông tin về thực tiễn trên địa bàn tỉnh có liên quan đến đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản được rà soát; Thủ trưởng các Sở, ngành tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp xã (sau đây gọi là cơ quan rà soát) tiến hành rà soát trên cơ sở những thông tin, tài liệu sau:
a) Tài liệu của Đảng và Nhà nước như: Điều lệ, Nghị quyết, Thông tri, Chỉ thị và văn kiện, tài liệu chính thức khác của Đảng Cộng sản Việt Nam; văn bản, tài liệu chính thức của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
b) Kết quả điều tra, khảo sát; thông tin, chỉ số, định mức về phát triển kinh tế - xã hội; số liệu, kết quả và báo cáo thống kê; các thông tin và số liệu về thực tiễn do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã thu thập hoặc công bố.