Điều 5. Giấy phép xây dựng:
1. Trước khi khỏi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng, trừ các trường hợp xây dựng sau đây:
a) Công trình thuộc bí mật Nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp, công trình tạm phục vụ xây dựng công trình chính;
b) Công trình xây dựng theo tuyến không đi qua đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng, dự án đầu tư xây dựng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
c) Công trình hạ tầng kỹ thuật quy mô nhỏ thuộc các xã vùng sâu, vùng xa;
d) Nhà ở riêng lẻ tại vùng sâu, vùng xa không thuộc đô thị, không thuộc điểm dân cư tập trung, điểm dân cư nông thôn chưa có quy hoạch xây dựng được duyệt;
đ) Các công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong không làm thay đổi kiến trúc, kết cấu chịu lực và an toàn của công trình.
2. Đối với nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, các quy định về cấp giấy phép xây dựng phải phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương, Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã quy định cụ thể các điểm dân cư tập trung thuộc địa bàn phải cấp giấy phép xây dựng.
3. Các công trình được cấp giấy phép xây dựng công trình tạm:
a) Nhà và các công trình phụ trợ trong khu vực đất do Nhà nước thu hồi để xây dựng các công trình công cộng hoặc giao cho các tổ chức, cá nhân thuê để đầu tư xây dựng các công trình theo quy hoạch, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền thì được phép xây dựng công trình tạm hoặc bán kiên cố nhưng phải đảm bảo an toàn và có thời hạn phù hợp với thời gian chưa thực hiện quy hoạch;
b) Chủ công trình phải cam kết tự phá rỡ và chịu mọi chi phí cho việc phá rỡ khi Nhà nước thực hiện quy hoạch. Trường hợp có yêu cầu phải di chuyển trước thời hạn được ghi trong giấy phép xây dựng tạm thì được đền bù theo quy định của pháp luật.