vanban.org

Điều 15. Xử lý thu hồi nợ và tài sản cầm cố để thu hồi nợ. — Quyết định 251/2001/QĐ-NHNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 22/11/2003 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 22/11/2003 Sửa đổi, bổ sung: 1452/2003/QĐ-NHNN · 03/11/2003
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 30/03/2001 Hiệu lực 15/04/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 28 năm
Quyết định số 251/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng · 251/2001/QĐ-NHNN
22/11/20031452/2003/QĐ-NHNNThay thế Đang xem 15/04/2001Bản gốcThay thế
Quyết định số 431/1997/QĐ-NHNN14 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Bổ sung quy định về tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước với các Tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 285/QĐ-NH14 ngày 10/11/1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. · 431/1997/QĐ-NHNN14
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 251/2001/QĐ-NHNN › Chương II › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15. Xử lý thu hồi nợ và tài sản cầm cố để thu hồi nợ.

Trường hợp đến kỳ hạn trả nợ mà ngân hàng xin vay không trả được nợ, Ngân hàng Nhà nước thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ bắt buộc (gốc và lãi) và thanh toán tiền phạt (nếu có) như sau:

1. Trích tài khoản tiền gửi của ngân hàng xin vay tại Ngân hàng Nhà nước để thu nợ bắt buộc đối với từng kỳ hạn nợ.

2. Trường hợp tài khoản tiền gửi của ngân hàng xin vay tại Ngân hàng Nhà nước không đủ để thu nợ, khoản nợ gốc vay cầm cố đến hạn trả nợ phải chịu lãi suất quá hạn tính từ thời điểm đến hạn thanh toán của khoản vay đến thời điểm thu được nợ (gốc và lãi) từ nguồn thanh toán các giấy tờ cầm cố đáo hạn.

3. Thu nợ từ việc thanh toán giấy tờ cầm cố đáo hạn để thu hồi nợ trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước là tổ chức phát hành hoặc được uỷ quyền thanh toán cho người thụ hưởng (chủ sở hữu hợp pháp).

4. Yêu cầu tổ chức có trách nhiệm thanh toán giấy tờ đang cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước thanh toán trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước, theo nghĩa vụ mà người thụ hưởng (chủ sở hữu hợp pháp) đã cam kết. Trường hợp tổ chức phát hành không thực hiện nghĩa vụ thì tổ chức đó hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.