Điều 3. Tỷ lệ lấp đầy
Tỷ lệ lấp đầy căn cứ vào tiến độ đã được xác định trong chủ trương đầu tư hoặc hồ sơ mời thầu thực hiện dự án đầu tư hoặc quyết định phê duyệt, chấp thuận dự án đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ước tính doanh thu phát triển của dự án. Trường hợp trong các văn bản về chủ trương đầu tư hoặc hồ sơ mời thầu thực hiện dự án đầu tư hoặc quyết định phê duyệt, chấp thuận dự án đầu tư chưa xác định tỷ lệ lấp đầy thì tỷ lệ lấp đầy sau khi hoàn thành xây dựng công trình được xác định như sau:
1. Đối với trường hợp cho thuê đất, thuê sàn xây dựng sử dụng vào mục đích thương mại, văn phòng, kho xưởng (ngoài khu, cụm công nghiệp) và kinh doanh dịch vụ giáo dục, y tế, thể thao, trông giữ xe:
a) Tỷ lệ lấp đầy năm thứ nhất là 60 phần trăm.
b) Tỷ lệ lấp đầy năm thứ hai là 70 phần trăm.
c) Tỷ lệ lấp đầy từ năm thứ ba là 80 phần trăm.
2) Đối với trường hợp cho thuê đất sử dụng vào mục đích khách sạn, căn hộ du lịch, biệt thự nghỉ dưỡng và các loại hình lưu trú khác có tính chất tương tự:
a) Tỷ lệ lấp đầy năm thứ nhất là 50 phần trăm.
b) Tỷ lệ lấp đầy năm thứ hai là 60 phần trăm.
c) Tỷ lệ lấp đầy từ năm thứ ba là 70 phần trăm.
3) Đối với trường hợp cho thuê đất sử dụng vào mục đích công nghiệp: Tỷ lệ lấp đầy được xác định theo tỷ lệ bán hàng.
4) Đối với trường hợp cho thuê đất sử dụng vào mục đích khác: Căn cứ vào số liệu điều tra, khảo sát thực tế, đơn vị tư vấn đề xuất tỷ lệ lấp đầy để Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể thẩm định.