vanban.org

Điều 18. Đặt cọc thăm dò khoáng sản — Quyết định 25/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2022 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2022 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 20/2022/QĐ-UBND · 17/06/2022
Tiền Giang Ban hành 15/06/2007 Hiệu lực 25/06/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 25/2007/QĐ-UBND quy định về việc quản lý, cấp phép thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và các quy định khác có liên quan · 25/2007/QĐ-UBND
01/07/202220/2022/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 25/06/2007Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 25/2007/QĐ-UBND › Chương VII › Điều 18
Đọc toàn văn

Điều 18. Đặt cọc thăm dò khoáng sản

Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép thăm dò khoáng sản phải có xác nhận đã nộp tiền đặt cọc tại Kho bạc nhà nước, hoặc ký quỹ tại các ngân hàng thương mại được phép hoạt động tại Việt Nam, trừ trường hợp hoạt động thăm dò theo giấy phép được thực hiện bằng vốn của ngân sách nhà nước.

Tiền đặt cọc được thực hiện một lần khi cấp giấy phép thăm dò. Mức tiền đặt cọc bằng hai mươi lăm phần trăm (25%) giá trị dự toán chi phí thăm dò của năm thăm dò đầu tiên.

Sau sáu (06) tháng, kể từ ngày giấy phép thăm dò khoáng sản có hiệu lực, công việc thăm dò không được tiến hành mà giấy phép bị chấm dứt hiệu lực thì tiền đặt cọc hoặc tiền ký quỹ được nộp vào ngân sách nhà nước.

Sau sáu (06) tháng, kể từ ngày giấy phép thăm dò khoáng sản có hiệu lực, công việc thăm dò đã được tiến hành đúng kế hoạch thì tổ chức, cá nhân được phép thăm dò có quyền nhận lại tiền đặt cọc hoặc ký quỹ.