Điều 32. Thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong các trường hợp bị thu hồi giấy phép nêu tại các khoản 1(trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đã hoạt động), 4 và 5 Điều 21 của Quy chế này
1. Hội đồng thanh lý:
a) Sau khi ra thông báo giải thể bắt buộc đối với Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ra Quyết định thành lập Hội đồng thanh lý và chỉ định Chủ tịch Hội đồng thanh lý để tổ chức việc giải thể Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Quyết định thành lập Hội đồng thanh lý phải có các nội dung:
- Họ tên, địa chỉ các thành viên của Hội đồng thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở;
- Quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng thanh lý;
- Thời hạn thanh lý;
- Vai trò giám sát của Ngân hàng Nhà nước.
b) Thành phần Hội đồng thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở bao gồm:
- Đại diện của chính quyền địa phương (đại diện tham gia Hội đồng thanh lý có thể bao gồm đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã và đại diện Uỷ ban nhân cấp huyện hoặc đại diện của một trong hai cơ quan nói trên tuỳ theo thực tế trong từng trường hợp cụ thể tại địa phương);
- Đại diện Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở bao gồm Chủ tịch Hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát, người điều hành và đại diện (một hoặc một số) thành viên được lựa chọn trong số thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở;
- Đại diện của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương (trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở còn nợ vay Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương);
- Đại diện của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (trường hợp Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có thực hiện việc chi trả tiền bảo hiểm hoặc hỗ trợ tài chính cho Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở);
- Đại diện của các cơ quan có liên quan (nếu xét thấy cần thiết).
Đại diện của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương hoặc đại diện của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có thể được chỉ định là Chủ tịch Hội đồng thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở (nếu xét thấy cần thiết).
c) Hội đồng thanh lý có trách nhiệm:
- Lập danh sách và số tiền (gốc, lãi) của các chủ nợ, khách nợ đến thời điểm Quyết định thu hồi giấy phép có hiệu lực và danh mục các tài sản của Quỹ tín dụng nhân dân để xử lý bao gồm:
+ Tiền gửi của cá nhân, tổ chức kinh tế;
+ Các khoản cho vay;
+ Tài sản cố định, tài sản đi thuê, đi mượn hoặc cho thuê, cho mượn;
+ Tồn quỹ tiền mặt, kim loại quý, đá quý, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, tại các tổ chức tín dụng khác và các giấy tờ có giá;
+ Các khoản vốn góp tại Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương;
+ Các khoản phải thu, phải trả khác;
+ Các tài sản khác.
- Xây dựng kế hoạch thanh lý và báo cáo Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh;
- Triển khai kế hoạch thanh lý sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận; tìm mọi biện pháp thu hồi nợ (trường hợp khách hàng không có đủ số tiền để trả nợ Quỹ tín dụng nhân dân cả gốc và lãi thì Hội đồng thanh lý có thể thu nợ gốc trước và tận thu lãi khi khách hàng có tiền) và tài sản của Quỹ tín dụng nhân dân để thanh toán cho các chủ nợ. Tổ chức thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở theo các quy định của pháp luật hiện hành. Mọi khoản thu của Quỹ tín dụng nhân dân phải được sử dụng để thanh toán cho các chủ nợ theo thứ tự ưu tiên quy định tại khoản 3 của Điều này.
- Tuân thủ sự giám sát, chỉ đạo của Tổ giám sát thanh lý của Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh.
- Hàng tháng, Hội đồng thanh lý phải báo cáo với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh về tình hình và kết quả thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
d) Hội đồng thanh lý có quyền hạn:
- Hội đồng thanh lý hoạt động theo Quyết định thành lập của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Chủ tịch và các thành viên Hội đồng thanh lý phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực thi nhiệm vụ của mình.
- Hội đồng thanh lý được sử dụng con dấu và ấn chỉ thông thường của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong quá trình thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở theo quy định của pháp luật. Trong quá trình thanh lý, Hội đồng thanh lý được quyền sử dụng Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, bộ máy điều hành và các nhân viên chuyên môn nghiệp vụ của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở để thực hiện các công việc thanh lý.
đ) Chủ tịch Hội đồng thanh lý có quyền hạn:
- Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong Hội đồng thanh lý và ký tên trên các văn bản, chứng từ, báo cáo liên quan trong quá trình thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
- Chủ tịch Hội đồng thanh lý có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan tại địa phương hỗ trợ trong việc thu hồi nợ và được quyền khởi kiện trước pháp luật những tổ chức, cá nhân cố tình chây ỳ trong việc trả nợ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
2. Thời hạn thanh lý:
a) Thời hạn thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở tối đa không quá 06 tháng kể từ ngày Quyết định thu hồi giấy phép có hiệu lực;
b) Trường hợp phải kéo dài quá thời hạn thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thì Hội đồng thanh lý phải báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh và có văn bản đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho gia hạn thanh lý. Việc gia hạn thanh lý do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Quyết định. Thời gian gia hạn từng lần không quá 06 tháng.
3. Thứ tự ưu tiên thanh toán cho các chủ nợ:
a) Các khoản lệ phí, chi phí cho việc giải thể Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở;
b) Các khoản tiền của Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác cho vay đặc biệt nhằm hỗ trợ chi trả tiền gửi (nếu có);
c) Các khoản tiền gửi của khách hàng; các khoản chi trả tiền bảo hiểm của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam;
d) Các khoản tiền vay của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, vay của các tổ chức, cá nhân khác (ngoài các khoản quy định tại điểm b của khoản này);
đ) Các khoản nợ thuế (nếu có);
e) Việc trả vốn góp cho thành viên (theo khả năng tài chính hiện có và đảm bảo công bằng bình đẳng giữa các thành viên) và giải quyết các quyền lợi khác của thành viên chỉ được thực hiện sau khi đã giải quyết xong các nghĩa vụ đối với các chủ nợ.
4. Kết thúc thanh lý:
a) Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở kết thúc thanh lý trong các trường hợp sau:
- Đã thanh toán hết các khoản nợ.
- Hết thời hạn thanh lý theo quy định (kể cả thời gian gia hạn nếu có).
- Không có khả năng thanh toán đủ cho các chủ nợ.
b) Khi kết thúc thanh lý, Hội đồng thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phải có báo cáo bằng văn bản với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh đề nghị cho kết thúc thanh lý trong các trường hợp sau:
- Trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đã xử lý xong các khoản nợ và tài sản, Hội đồng thanh lý phải có báo cáo bằng văn bản đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ra Quyết định giải thể bắt buộc đối với Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và làm thủ tục chấm dứt tư cách pháp nhân của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
- Trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đã xử lý xong các khoản nợ quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 3 của Điều này, Hội đồng thanh lý phải có báo cáo bằng văn bản đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho phép bàn giao số nợ còn phải thu cho Uỷ ban nhân dân cấp xã và các sáng lập viên để tiếp tục thu hồi nợ trả vốn góp cho thành viên, chia cho thành viên theo công sức đóng góp trong quá trình xây dựng Quỹ tín dụng nhân dân (nếu còn) và ra Quyết định giải thể bắt buộc đối với Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Hội đồng thanh lý có trách nhiệm làm thủ tục chấm dứt tư cách pháp nhân của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và nộp con dấu của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Trong quá trình thực hiện thanh lý hoặc khi hết thời hạn thanh lý theo quy định (kể cả thời gian gia hạn nếu có), nếu Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở không có khả năng thanh toán đủ cho các chủ nợ, Hội đồng thanh lý có văn bản gửi Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh đề nghị cho kết thúc thanh lý để tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản và các quy định pháp luật khác có liên quan.
c) Sau khi kết thúc thanh lý, Hội đồng thanh lý có trách nhiệm bàn giao cho Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh toàn bộ hồ sơ, chứng từ liên quan trong quá trình hoạt động và thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở để lưu trữ và toàn bộ số ấn chỉ chưa sử dụng; trừ các hồ sơ, chứng từ liên quan đến các khoản nợ chưa được xử lý thì bàn giao cho Uỷ ban nhân dân cấp xã để tiếp tục theo dõi và xử lý;
d) Hội đồng thanh lý phải chuyển giao cho chính quyền địa phương các tài sản không được chia (vốn do Nhà nước trợ cấp, công trình công cộng, kết cấu hạ tầng phục vụ chung cho cộng đồng dân cư) để quản lý và sử dụng chung cho cộng đồng dân cư.