Điều 8. Nhận tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
1. Mọi tài liệu, vật mang bí mật nhà nước gửi đến cơ quan, tổ chức đều phải qua cán bộ văn thư ký nhận và ghi vào Sổ "Tài liệu mật đến". Sau khi vào Sổ, văn thư chuyển ngay Chánh Văn phòng để chuyển tới hoặc phân công người có thẩm quyền giải quyết. Sổ "Tài liệu mật đến" phải có các nội dung: số thứ tự, ngày, tháng, năm nhận văn bản, nơi gửi, số và ngày, tháng, năm của tài liệu mật, trích yếu nội dung, độ mật, độ khẩn, người nhận giải quyết.
2. Đối với những tài liệu, vật mang bí mật nhà nước có ghi rõ địa chỉ nơi nhận, người nhận thì cán bộ văn thư sau khi ghi vào Sổ "Tài liệu mật đến" theo quy định phải chuyển ngay đến địa chỉ nơi nhận hoặc người nhận.
3. Trường hợp tài liệu, vật mang bí mật nhà nước mà trên bì có dấu "Chỉ người có tên mới được bóc bì" thì cán bộ văn thư vào Sổ số tài liệu ghi ngoài bì, tên người nhận và chuyển ngay đến người có tên trên bì.
4. Trường hợp người nhận, người có tên trên bì nói tại khoản 2, khoản 3 Điều này đi vắng thì cán bộ văn thư báo cáo Chánh Văn phòng để giải quyết, không được tự động bóc bì.
5. Đối với điện mật thực hiện theo quy định của Pháp lệnh cơ yếu. Điện mật trong thời gian đang xử lý phải được bảo quản trong tủ, hòm, két sắt có khóa do cán bộ bảo mật quản lý. Khi hết thời hạn được phép lưu điện mật tại cơ quan, cán bộ bảo mật phải làm thủ tục chuyển trả điện mật theo quy định của pháp luật về cơ yếu.
6. Trường hợp thấy tài liệu, vật mang bí mật nhà nước gửi đến mà nơi gửi không thực hiện đúng thủ tục bảo mật thì cán bộ văn thư chuyển đến Chánh Văn phòng đồng thời thông tin lại nơi gửi để rút kinh nghiệm. Nếu phát hiện tài liệu, vật mang bí mật nhà nước gửi đến có dấu hiệu bị bóc, mở bao bì, lộ lọt bí mật nhà nước hoặc tài liệu, vật bị tráo đổi, mất, hư hỏng... thì người nhận phải báo cáo ngay với Chánh Văn phòng cơ quan, tổ chức mình để có biện pháp xử lý kịp thời.