Điều 7. Phòng, chống phần mềm độc hại
1. Tất cả máy chủ, máy trạm của cơ quan, đơn vị phải được trang bị phần mềm diệt vi rút có bản quyền và đã được cơ quan chức năng khuyến cáo sử dụng. Phần mềm diệt vi rút phải được thiết lập chế độ tự động cập nhật và chế độ tự động quét phần mềm độc hại khi sao chép, mở các tệp tin.Đối với việc ghi nhớ mật khẩu có thể quy định chung để quản trị đơn vị cài đặt chế độ không ghi nhớ mật khẩu đối với máy tính tại cơ quan, đơn vị.
2. Hệ điều hành, phần mềm cài đặt trên máy chủ, máy trạm phải được cập nhật vá lỗ hổng bảo mật thường xuyên, kịp thời.
3. Cá nhân không được tự ý gỡ bỏ các phần mềm phòng, chống phần mềm độc hại trên máy tính khi chưa có sự đồng ý của người có thẩm quyền trong cơ quan, đơn vị.
4. Tất cả các máy tính của cơ quan, đơn vị phải được cấu hình vô hiệu hóa tính năng tự động thực thi (autoplay) các tệp tin trên các thiết bị lưu trữ thiết bị ngoại vi kết nối hệ thống.
5. Máy tính xách tay, thiết bị di động (máy tính bảng, điện thoại thông minh, thiết bị có phần mềm hệ điều hành) trước khi kết nối vào mạng nội bộ (LAN) của cơ quan, đơn vị phải được bộ phận kỹ thuật chuyên trách kiểm duyệt, đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin.
6. Máy chủ chỉ được dùng để cài đặt các phần mềm, dịch vụ dùng chung của cơ quan, đơn vị; không cài đặt phần mềm không rõ nguồn gốc, phần mềm phục vụ mục đích cá nhân và không phục vụ công việc.
7. Khi kết nối từ xa vào máy chủ để quản trị, phải sử dụng phương thức kết nối có mã hóa. Khuyến khích sử dụng mạng diện rộng (WAN) của tỉnh (được thiết lập trên nền tảng mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước) để truy nhập, khai thác các hệ thống thông tin dùng chung của tỉnh.
8. Tất cả các tệp tin, thư mục phải được quét phần mềm độc hại trước khi sao chép, sử dụng, truyền đưa, trao đổi.
9. Khi phát hiện ra bất kỳ dấu hiệu nào liên quan đến việc bị nhiễm phần mềm độc hại trên máy trạm như: Hoạt động chậm bất thường, có cảnh báo từ phần mềm phòng chống phần mềm độc hại, tình trạng này lặp đi lặp lại nhiều lần, ở các vị trí khác nhau, nhất là có dấu hiệu bị thay đổi, mất dữ liệu, người sử dụng phải tắt máy, ngắt kết nối từ máy tính đến mạng nội bộ (LAN), mạng diện rộng (WAN), mạng Internet và báo cáo, thông báo trực tiếp cho cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng hoặc bộ phận có trách nhiệm của cơ quan, đơn vị để xử lý.
10. Đảm bảo an toàn, cập nhật các bản vá cho thiết bị mạng như Router, Switch (danh mục thiết bị được công bố các lỗ hổng thường xuyên trên bản tin An toàn thông tin).
11. Sau khi thành lập Trung tâm Giám sát an toàn thông tin mạng (SOC - Security Operation Center) tỉnh Bắc Kạn, Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức kết nối, điều phối các đơn vị trên địa bàn tỉnh tham gia vào hệ thống SOC để đảm bảo an toàn thông tin cho các hoạt động của cơ quan nhà nước trên không gian mạng, đặc biệt nêu cao vai trò giám sát hệ thống và xử lý sự cố của Đội ứng cứu sự cố mạng, máy tính (BKCert) tỉnh, quản trị đơn vị tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống phòng, chống phần mềm độc hại tập trung cho các máy chủ, máy trạm của các cơ quan nhà nước tỉnh.