vanban.org

Điều 7. Cấp Giấy chứng nhận trong các trường hợp sử dụng đất từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 — Quyết định 191/2012/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/08/2014
Bắc Giang Ban hành 27/06/2012 Hiệu lực 07/07/2012 Hết hiệu lực toàn bộ 7 bản án áp dụng
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 191/2012/QĐ-UBND › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Cấp Giấy chứng nhận trong các trường hợp sử dụng đất từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993

 1. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng không có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (sau đây viết tắt là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP) nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận sử dụng ổn định, không tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất trong hạn mức quy định tại khoản 4 Điều 4 Quy định kèm theo Quyết định số 134/2009/QĐ-UBND; đối với diện tích đất ngoài hạn mức mà hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu chuyển sang làm đất ở thì phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất (sau đây viết tắt là Nghị định số 198/2004/NĐ-CP).

2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở do được giao không đúng thẩm quyền nhưng có giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 11 Quy định này, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận sử dụng ổn định, không có tranh chấp, phù hợp quy hoạch đất ở, thì được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đã được giao.

3. Trường hợp hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở nằm xen kẹt trong khu dân cư có nguồn gốc do lấn, chiếm, tự ý chuyển mục đích từ đất không phải là đất ở sang xây dựng nhà ở nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận sử dụng ổn định không có tranh chấp, phù hợp quy hoạch đất ở thì được cấp Giấy chứng nhận và phải thu tiền sử dụng đất bằng 50% theo giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định đối với phần diện tích đất trong hạn mức đất ở quy định tại Điều 3 Quy định kèm theo Quyết định số 134/2009/QĐ-UBND; đối với diện tích ngoài hạn mức thu theo hệ số điều chỉnh giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh Quyết định tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc nhóm đất nông nghiệp mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích thì được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.