vanban.org

Điều 4. Hạn mức công nhận đất ở và việc xác định diện tích đất ở đối với trường hợp chưa xác định cụ thể diện tích đất ở trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp — Quyết định 18/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 12/03/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
UBND Tỉnh Bắc Ninh Ban hành 02/03/2026 Hiệu lực 12/03/2026 Còn hiệu lực 3 bản án áp dụng
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 18/2026/QĐ-UBND › Chương II › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Hạn mức công nhận đất ở và việc xác định diện tích đất ở đối với trường hợp chưa xác định cụ thể diện tích đất ở trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp

Hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 Luật Đất đai như sau:

1. Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980:

a) Đối với các phường, xã thuộc tỉnh Bắc Ninh cũ (sau đây gọi là khu vực phía Nam sông Cầu): Diện tích đất ở được xác định bằng năm (05) lần hạn mức giao đất ở theo xã, phường quy định tại Điều 3 quy định này nhưng không quá diện tích thửa đất đang sử dụng và không quá 600 m2 (Sáu trăm mét vuông).

b) Đối với các phường, xã thuộc tỉnh Bắc Giang cũ (sau đây gọi là khu vực phía Bắc sông Cầu): Diện tích đất ở được xác định bằng năm (05) lần hạn mức giao đất ở theo xã, phường quy định tại Điều 3 quy định này nhưng không quá diện tích thửa đất đang sử dụng và không quá 800 m2 (Tám trăm mét vuông).

2. Trường hợp thửa đất được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì hạn mức công nhận đất ở được xác định theo nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất như sau:

a) Tại phường Bắc Giang, phường Kinh Bắc, phường Từ Sơn: Trường hợp thửa đất của 01 (một) cá nhân thì hạn mức đất ở công nhận không quá 200 m2 (Hai trăm mét vuông); trường hợp thửa đất có từ 02 (hai) cá nhân có chung quyền sử dụng đất trở lên thì hạn mức công nhận đất ở cho mỗi cá nhân tăng thêm 40 m2 (Bốn mươi mét vuông) nhưng tổng diện tích không quá 300 m2 (Ba trăm mét vuông).

b) Tại các phường còn lại: Trường hợp thửa đất của 01 (một) cá nhân thì hạn mức đất ở công nhận không quá 250 m2 (Hai trăm lăm mươi mét vuông); trường hợp thửa đất có từ 02 (hai) cá nhân có chung quyền sử dụng đất trở lên thì hạn mức công nhận đất ở cho mỗi cá nhân tăng thêm 70 m2 (Bảy mươi mét vuông) nhưng tổng diện tích không quá 400 m2 (Bốn trăm mét vuông).

c) Tại các xã quy định tại điểm a khoản 5 Điều 3 quy định này: Trường hợp thửa đất có 01 (một) cá nhân thì hạn mức đất ở công nhận không quá 300 m2 (Ba trăm mét vuông); trường hợp thửa đất có từ 02 (hai) cá nhân có chung quyền sử dụng đất trở lên thì hạn mức công nhận đất ở cho mỗi cá nhân tăng thêm 100 m2 (Một trăm mét vuông) nhưng tổng diện tích không quá 540 m2 (Năm trăm bốn mươi mét vuông)

d) Tại các xã quy định tại điểm b khoản 5 Điều 3 quy định này: Trường hợp thửa đất có 01 (một) cá nhân thì hạn mức đất ở công nhận không quá 360 m2 (Ba trăm sáu mươi mét vuông); trường hợp thửa đất có từ 02 (hai) cá nhân có chung quyền sử dụng đất trở lên thì hạn mức công nhận đất ở cho mỗi cá nhân tăng thêm 120 m2 (Một trăm hai mươi mét vuông) nhưng tổng diện tích không vượt quá 600 m2 (Sáu trăm mét vuông).

đ) Diện tích quy định tại các điểm a, b, c, d khoản này không vượt quá diện tích thửa đất, phần diện tích còn lại được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.

e) Cá nhân để xem xét công nhận hạn mức đất ở quy định tại điểm a, b, c, d khoản này là số cá nhân thực tế đang ở trên thửa đất đó và có trong cơ sở dữ liệu về cư trú tại thời điểm ngày 01 tháng 8 năm 2024, bao gồm những người có quan hệ là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con đẻ và con nuôi, cháu có quan hệ trực hệ theo quy định của pháp luật.

3. Việc xác định diện tích đất ở đối với trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 không thuộc trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 141 của Luật Đất đai mà chưa xác định cụ thể diện tích đất ở hoặc diện tích đất ở trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng quy định theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP như sau:

Trường hợp hồ sơ địa chính đã thể hiện cụ thể diện tích đất ở, diện tích đất vườn, ao phù hợp với quy định tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất ở xác định theo hồ sơ địa chính. Trường hợp hồ sơ địa chính không thể hiện diện tích đất ở, diện tích đất vườn, ao thì việc xác định diện tích đất ở thực hiện như sau:

a) Trường hợp thửa đất hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 thì diện tích đất ở xác định theo quy định tại khoản 1 điều này.

b) Trường hợp thửa đất hình thành sau ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì diện tích đất ở xác định theo quy định tại các điểm a, b, c d, đ khoản 2 điều này. Cá nhân để xem xét xác định diện tích đất ở là số cá nhân thực tế đang ở trên thửa đất đó và có trong cơ sở dữ liệu về cư trú tại thời điểm ngày 01 tháng 7 năm 2004, bao gồm những người có quan hệ là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con đẻ và con nuôi, cháu có quan hệ trực hệ theo quy định của pháp luật.